Cần minh bạch trong cổ phần hóa Hãng Phim truyện Việt Nam

Việc Hãng Phim truyện Việt Nam tiến hành cổ phần hóa với đối tác chiến lược là Tổng công ty Vận tải thủy thời gian qua nhận được nhiều ý kiến từ không chỉ người trong giới mà cả khán giả hâm mộ điện ảnh. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tài chính và nhà đầu tư đã có giải trình chính thức, nhưng dư luận vẫn không khỏi băn khoăn trước những tác động của việc cổ phần hóa đối với lĩnh vực văn hóa đặc thù này.

Trụ sở Hãng Phim truyện Việt Nam tại phố Thụy Khuê, Hà Nội.
Trụ sở Hãng Phim truyện Việt Nam tại phố Thụy Khuê, Hà Nội.

Có phải lựa chọn tất yếu ?

Tại buổi họp báo diễn ra chiều 5-5-2016 do Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT và DL) Huỳnh Vĩnh Ái chủ trì, hầu hết các chuyên gia, đạo diễn và nhà quản lý đều thừa nhận: Hãng Phim truyện Việt Nam (VFS) không còn con đường nào khác ngoài cổ phần hóa, sau khi đã lỗ lũy kế lên đến gần 40 tỷ đồng từ gần 20 năm nay, hoạt động cầm chừng, nếu không thay đổi sẽ có khả năng phá sản. Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái cho biết: “Nếu chúng ta cứ để VFS như hiện tại, dần dần sẽ không có tiền nuôi cán bộ, công nhân viên.

Hiện nay nhân sự của hãng chỉ nhận được 50% số lương cơ bản, bởi sống chủ yếu bằng 2 đến 3 phim được đặt hàng mỗi năm”. Đạo diễn, NSND Vương Đức, Giám đốc VFS nhấn mạnh: “Cá nhân tôi, dù không thích việc cổ phần hóa, nhưng không cổ phần là chết”. Mặc dù tiếc nuối một thời hoàng kim của Hãng phim giống như “người anh cả” của điện ảnh cách mạng Việt Nam, nhưng hiện nay tư duy làm phim đã thay đổi, nếu không có khán giả sẽ không cạnh tranh được với thị trường. Sự vào cuộc của các nhà đầu tư có tiềm lực tài chính được kỳ vọng là một lối thoát.

Thực tế, VFS vẫn có giá trị thương hiệu, nhưng giá trị kinh doanh bằng 0. Do vậy, những thông tin cho rằng Hãng phim bị “bán tống bán tháo” với giá rẻ mạt là không có căn cứ. Được biết, việc định giá được tiến hành nhiều lần và theo đúng quy định của pháp luật. Thật ra, lý do của những “điều tiếng” khi VFS xúc tiến việc cổ phần hóa sau gần chục năm chậm trễ, cũng bởi nhà đầu tư chiến lược là Tổng công ty Vận tải thủy (VIVASO) - một đơn vị gần như không liên quan tới điện ảnh. Mặc dù trong Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm và Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã cụ thể hóa điều này, nhưng điều công chúng lo ngại là doanh nghiệp có thật sự quan tâm đến việc phát triển phim ảnh hay chỉ đơn thuần vì mục đích lợi nhuận trong kinh doanh?

Theo đại diện Bộ VHTT và DL, sau khi công khai việc cổ phần hóa và tìm nhà đầu tư chiến lược, không có nhiều đơn vị, doanh nghiệp “mặn mà” với Hãng phim, mà chỉ duy nhất VIVASO cam kết đáp ứng 10 điều khoản, gồm ba điều theo Nghị định 59/2011/NĐ-CP (Về chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần) và bảy điều theo yêu cầu của Bộ. Trong đó có một số điều khoản như: không chuyển nhượng cổ phần trong 5 năm; 90% doanh thu của đơn vị phải từ hoạt động điện ảnh; trả các khoản tiền thuê đất mà hãng đang nợ; tuân thủ phương án sử dụng đất để phục vụ sản xuất, phát triển điện ảnh; sử dụng toàn bộ nhân viên của hãng; cử ba người của Nhà nước tham gia vào Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và Ban Kiểm soát... Như vậy, với số tiền 32,5 tỷ đồng, VIVASO đã nắm 65% số cổ phần trong hãng. Số cổ phần còn lại được chia theo phương án: 20% thuộc về Nhà nước; 4,5% do cán bộ, công nhân viên của hãng nắm giữ; đấu giá công khai 10,5%.

Thua lỗ, nhưng VFS lại đang giữ một số khu đất “vàng” mà nhiều người cho rằng, đó mới là giá trị thật sự hấp dẫn nhà đầu tư. Hiện, trụ sở chính của hãng có diện tích khoảng 5.000 m2 ở số 4 Thụy Khuê (quận Ba Đình, Hà Nội) trong tình trạng cơ sở vật chất tồi tàn, lạc hậu, có tranh chấp khiếu kiện và còn nợ đọng hơn năm tỷ đồng tiền thuê đất. VIVASO cho biết, sau khi trả nợ, họ sẽ tiến hành sửa chữa, nâng cấp, xây mới một số hạng mục trong khuôn viên này. Theo cam kết, nếu người chủ mới sử dụng quỹ đất sai mục đích đã cam kết thì phải bồi thường thiệt hại cho Nhà nước, đồng thời Bộ VHTT và DL sẽ kiến nghị UBND thành phố Hà Nội thu hồi quyền sử dụng đất nếu có sai phạm.

Một điểm đáng chú ý nữa là sau khi cổ phần hóa, VFS sẽ được đổi tên thành Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển phim truyện Việt Nam. Cái tên thân thương với nhiều thế hệ nghệ sĩ và công chúng yêu điện ảnh không được tiếp tục sử dụng, nhưng vấn đề cốt yếu là dù khác tên gọi, đây vẫn phải là môi trường lành mạnh nuôi dưỡng nghệ thuật, tạo điều kiện để phát huy năng lực nghệ sĩ, nâng tầm điện ảnh Việt Nam; xóa bỏ sự trì trệ và dựa dẫm. Để làm được như vậy, yếu tố minh bạch, kiên quyết với các biểu hiện lệch hướng so với yêu cầu đặt ra, phải được đặt lên hàng đầu. Nếu việc cổ phần hóa thành công và hãng hoạt động có hiệu quả thì đây có thể là bài học kinh nghiệm cho một số hãng phim nhà nước khác đã tiến hành cổ phần hóa nhưng thất bại hoặc nửa vời, buộc phải tiến hành cổ phần hóa lần hai.

Hồi hộp chờ đợi sự minh bạch

Cũng như nhiều lĩnh vực khác, việc tư nhân tham gia có thể tạo thêm sự phong phú, sôi động cho thị trường điện ảnh, song nếu buông lỏng quản lý sẽ dẫn đến những chuyện “chướng tai gai mắt”. Về vấn đề chuyên môn nghiệp vụ (ảnh hưởng quyết định đến số lượng, chất lượng phim), các bên liên quan đều đã có giải trình. Cụ thể, dù doanh nghiệp tư nhân làm chủ nhưng bản quyền phim vẫn thuộc Nhà nước, không thể sử dụng tùy tiện. Đội ngũ đạo diễn, diễn viên, thiết kế, quay phim, hóa trang… vẫn thuộc hãng và hoạt động nghệ thuật bình thường. Còn việc sản xuất phim như thế nào, còn phải tiếp tục chờ đợi.

Đạo diễn Thanh Vân, Phó Giám đốc VFS cho biết: "Hiện tại, hãng vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi, phải lo các hoạt động hành chính, sự vụ. Tôi cũng như tất cả mọi người đều rất hồi hộp, chưa biết tương lai sẽ như thế nào. Điều quan trọng là cổ đông lớn nhất có coi sản xuất phim là mục tiêu chính hay không, thời điểm này còn quá sớm để nói. Phải chờ thành lập Hội đồng quản trị thì mới biết được định hướng tương lai". Chỉ có một điều chắc chắn, VFS sau khi cổ phần hóa, sẽ bắt đầu sản xuất các phim thương mại, theo cơ chế thị trường; còn nếu được Nhà nước đặt hàng thì vẫn phát huy thế mạnh như từ trước tới nay - ông Nguyễn Danh Thắng, Phó Tổng Giám đốc VIVASO cho biết.

Bên cạnh vấn đề chuyên môn được đặt ra, gây lo lắng hơn cả còn là câu chuyện quyền sử dụng đối với bốn mảnh đất của VFS, bao gồm khoảng 5.000 m2 ở số 4 Thụy Khuê; khu đất hơn 900 m2 tại ngõ 151 Hoàng Hoa Thám (Hà Nội); trường quay 6.000 m2 tại Uy Nỗ (Đông Anh, Hà Nội) và một khu đất tại đường Thái Văn Lung (TP Hồ Chí Minh). Mặc dù những mảnh đất này không thuộc sở hữu của hãng mà là đất thuê của Nhà nước, phải trả tiền hằng năm và khi cổ phần hóa, đất đai không được tính vào giá trị doanh nghiệp; nhưng nếu hợp đồng thuê đất có thời hạn lâu năm, mức giá lại được ưu đãi thì vẫn có thể dựa vào đó để kiếm lợi nếu ai đó có chủ đích.

Những lo lắng này là có cơ sở, bởi lâu nay, tình trạng chiếm dụng đất công diễn ra trong nhiều ngành nghề, lĩnh vực, không riêng gì điện ảnh. Không ít đơn vị văn hóa, sau khi cổ phần hóa đã bị xé nhỏ mặt bằng để cho thuê, làm nhiều việc riêng, gây tình trạng lộn xộn, lãng phí tài sản Nhà nước. Để xử lý vi phạm này không dễ dàng, trong khi nếu chỉ nhắc nhở, cảnh cáo thì hầu như không hiệu quả, người sử dụng đất sai mục đích vẫn cứ chây ỳ. Trong trường hợp này, phía VIVASO đã có thông báo, sau này, ngoài hoạt động sản xuất phim, hãng sẽ tiếp tục mở rộng kinh doanh nhà hàng, dịch vụ và bán các sản phẩm của công ty. Như vậy, trong 5 năm đầu theo cam kết, có thể tạm yên tâm với nhà đầu tư này nếu họ tuân thủ các quy định. Nhưng sau đó sẽ ra sao là điều mà đại diện các bộ và doanh nghiệp, người làm nghề điện ảnh và công chúng đều chưa thể hình dung được(?!).

Việc cổ phần hóa VFS vẫn đang được tiến hành, chưa xong, với 8/10,5% cổ phần bán ra ngoài chưa có chủ. Tư duy một cách khách quan như đạo diễn Phan Đăng Di là: “Không nên tranh cãi chuyện tốt hay xấu, mà đây là chuyện đương nhiên phải xảy ra. Nên nhìn nhận với thái độ tích cực và có sự chuẩn bị thật tốt”. Nhưng để giữ được uy tín, để nghệ sĩ an tâm tiếp tục đam mê, cống hiến và khán giả được thỏa lòng mong chờ, hy vọng, phía đơn vị chủ quản và nhà đầu tư nhất thiết phải có chiến lược hoạt động rõ ràng, minh bạch; hài hòa giữa yếu tố lợi ích kinh doanh và phát triển nghệ thuật. Mọi vấn đề về nhân sự, kế hoạch sử dụng đất, dự án làm phim… phải thực hiện theo đúng các quy định và cần được công khai. Nếu vi phạm, sẽ bị xử lý nghiêm minh để tránh những bất cập kéo dài.

Có thể bạn quan tâm

Đại diện lãnh đạo thành phố Hà Nội trao Bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố cho di tích Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn.

Hà Nội trao bằng xếp hạng cấp thành phố cho di tích văn hóa lịch sử làng La Xuyên, xã Cổ Đô

Nhân dân thôn La Xuyên, xã Cổ Đô, thành phố Hà Nội vừa tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn. Buổi lễ có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Nội vụ Hà Nội.

Bìa tác phẩm "Đời như tiểu thuyết" của tác giả Trương Đức Minh Tứ.

Những phận người không hư cấu trong Đời như tiểu thuyết

"Đời như tiểu thuyết" của Trương Đức Minh Tứ không phải là cuốn sách để tìm một cốt truyện theo nghĩa thông thường. Ở đó là những con người cụ thể, những đời sống đã diễn ra, với đủ biến cố, chia ly, lựa chọn, day dứt, hy sinh và cả những cuộc kiếm tìm kéo dài đến tận cuối đời. 

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo cựu chiến binh, chiến sĩ Điện Biên tham quan triển lãm "Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại".

Đặc sắc triển lãm “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại” tại Điện Biên

Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2026), Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) tổ chức trưng bày, triển lãm 28 tác phẩm ký họa tiêu biểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ của các họa sĩ Ngô Mạnh Lân, Phạm Thanh Tâm và Dương Hướng Minh với chủ đề “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại”.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.