Không chỉ là giảm đầu mối
Theo Đề án sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp công lập, ngành giáo dục đặt mục tiêu giảm khoảng 30% số trường học trên cả nước; những địa phương có điều kiện thuận lợi có thể giảm tới 50%. Đối với khối mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên, việc sắp xếp phải hoàn thành trước ngày 30/8/2026. Sau giai đoạn thí điểm tại 15 tỉnh, thành phố, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) sẽ tổng kết, đánh giá để triển khai trên phạm vi toàn quốc, dự kiến hoàn thành trước ngày 30/4/2027.
Đây là một trong những chủ trương lớn nhằm thực hiện hiệu quả mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, đồng thời tái cấu trúc mạng lưới trường học theo hướng tinh gọn, hoạt động thuận lợi hơn. Tuy nhiên, điều được ngành giáo dục nhấn mạnh không phải là giảm bao nhiêu đầu mối, mà là sau khi sắp xếp, chất lượng giáo dục phải được nâng lên và quyền học tập của học sinh phải được bảo đảm.
Theo tính toán của Bộ GD&ĐT, việc tổ chức lại mạng lưới trường học sẽ giúp giảm khoảng 11.000 trường trên cả nước. Hơn 20.000 hiệu trưởng, phó hiệu trưởng sẽ được sắp xếp lại, trong đó khoảng 11.000 người được bố trí trở lại làm giáo viên, góp phần bổ sung cho nguồn nhân lực đang thiếu tại các cơ sở giáo dục.
Đây được xem là cơ hội để chuyển nguồn nhân lực từ công tác quản lý sang hoạt động chuyên môn, giúp nhiều trường học có thêm giáo viên đứng lớp, đồng thời khắc phục tình trạng nơi thiếu, nơi thừa giáo viên kéo dài nhiều năm qua.
Thứ trưởng Thường trực GD&ĐT Phạm Ngọc Thưởng khẳng định, việc rà soát, sắp xếp mạng lưới trường học phải bảo đảm ba yêu cầu cốt lõi là đủ trường, đủ lớp và đủ giáo viên, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương. Việc tổ chức lại hệ thống trường học không chỉ hướng tới tinh gọn bộ máy mà còn phải đáp ứng mục tiêu phổ cập giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học và không để ảnh hưởng đến quyền học tập của học sinh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tinh thần ấy cũng cho thấy, thành công của chủ trương này sẽ không được đo bằng số trường giảm đi, mà bằng việc học sinh có được học trong điều kiện tốt hơn hay không.
Miền núi cần một cách làm riêng
Nếu ở nhiều địa phương khu vực đồng bằng, việc sắp xếp trường học chủ yếu là bài toán tinh gọn bộ máy thì tại các tỉnh miền núi phía bắc, đây còn là bài toán bảo đảm quyền tiếp cận giáo dục của học sinh.
Địa hình chia cắt, dân cư sống phân tán, nhiều bản làng cách xa trung tâm xã khiến các điểm trường lẻ vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì sĩ số và thực hiện phổ cập giáo dục. Vì vậy, việc sắp xếp trường học không thể chỉ căn cứ vào số lớp hay số học sinh mà cần tính đến điều kiện đi lại, khoảng cách đến trường và đặc thù của từng địa bàn.
Thực tế, nhiều trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú chỉ có từ 8 đến 10 lớp. Nếu áp dụng cùng tiêu chí quy mô như trường phổ thông đại trà, phần lớn các trường này sẽ khó đáp ứng yêu cầu. Trong khi đó, việc sáp nhập với trường phổ thông thông thường cũng không đơn giản bởi đây là loại hình trường thực hiện những nhiệm vụ đặc thù đối với học sinh vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Vì vậy, nhiều địa phương đã kiến nghị cần có tiêu chí riêng đối với trường nội trú, bán trú và hướng dẫn cụ thể về loại hình trường được phép sáp nhập.
PGS, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD&ĐT), cho rằng, chủ trương sắp xếp trường học là cần thiết nhằm sử dụng hiệu quả nguồn lực, giảm đầu mối quản lý và tăng đầu tư trực tiếp cho hoạt động dạy học. Tuy nhiên, đối với khu vực miền núi phía bắc, không thể áp dụng một mô hình hay một tiêu chí quy mô trường học giống như vùng đồng bằng.
Theo ông, khi xây dựng phương án sắp xếp cần đặt quyền lợi của người học lên hàng đầu, tính toán kỹ khoảng cách đến trường, điều kiện giao thông, đặc điểm dân cư và vai trò của các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú. “Nếu sau sắp xếp, học sinh phải đi học xa hơn, tỷ lệ chuyên cần giảm hoặc nguy cơ bỏ học tăng thì mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục sẽ khó đạt được”, ông Vinh nhấn mạnh.
Quá trình sắp xếp cũng cần được thực hiện từng bước, gắn với đầu tư cơ sở vật chất, ký túc xá, phương tiện đưa đón học sinh ở những nơi cần thiết, đồng thời tăng cường chuyển đổi số và dạy học trực tuyến để thu hẹp khoảng cách giữa vùng thuận lợi với vùng khó khăn.
Tinh gọn bộ máy là mục tiêu của cải cách hành chính, nhưng với giáo dục, thước đo cuối cùng vẫn là chất lượng học tập của học sinh. Một chủ trương chỉ thật sự thành công khi mọi trẻ em, kể cả ở những bản làng xa xôi, hẻo lánh, đều không bị bỏ lại phía sau trên hành trình đến trường.
Những yêu cầu đặt ra khi sắp xếp trường học:
- Lấy người học làm trung tâm.
- Phù hợp đặc thù từng địa bàn.
- Không làm giảm cơ hội đến trường của học sinh.
- Chuyển nguồn lực từ quản lý sang hoạt động dạy học.
Sắp xếp hệ thống giáo dục phổ thông công lập
Tập trung nguồn lực, nâng cao chất lượng dạy và học
Xây dựng phương án khoa học, minh bạch