Nhiều lợi thế, không ít trở ngại

Sở hữu hàng trăm nghìn héc-ta mặt nước của các hồ thủy điện, thủy lợi lớn, khu vực phía bắc được đánh giá là vùng giàu tiềm năng phát triển thủy sản hồ chứa.

Khai thác không gian mặt nước lòng hồ để nuôi thủy sản ở thủy điện Sơn La.
Khai thác không gian mặt nước lòng hồ để nuôi thủy sản ở thủy điện Sơn La.

Tuy nhiên, để biến lợi thế ấy thành động lực tăng trưởng, ngành hàng này vẫn phải vượt qua hàng loạt thách thức, như sản xuất manh mún, hạ tầng thiếu đồng bộ, khai thác tận diệt và những điểm nghẽn về cơ chế quản lý.

“Không gian kinh tế nổi” đang mở ra

Nếu nhìn từ trên cao, hệ thống hồ chứa của Việt Nam giống như một mạng lưới những “tấm gương nước” khổng lồ, trải dài từ miền núi phía bắc đến Tây Nguyên. Cả nước hiện có khoảng 6.750 hồ chứa thủy lợi và hơn 700 hồ chứa thủy điện, với tổng dung tích trên 50 tỷ m³, tạo ra khoảng 400.000 - 450.000 ha mặt nước. Nhiều hồ lớn hoàn toàn có thể phục vụ phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô hàng hóa.

Trong bức tranh đó, miền bắc nổi lên như một “lõi phát triển”. Đây là khu vực tập trung phần lớn các hồ chứa quy mô lớn như Hòa Bình, Sơn La, Thác Bà, Na Hang, Lai Châu… Đáng chú ý, các hồ có diện tích trên 5.000 ha chiếm tỷ trọng đáng kể, tạo thành những vùng mặt nước liên hoàn - một lợi thế hiếm có để phát triển nuôi trồng thủy sản quy mô lớn. Những con số này, nếu đặt trong bức tranh kinh tế nông nghiệp, không đơn thuần là tài nguyên, mà là một “quỹ không gian sản xuất” khổng lồ. Thực tế, một “nền sản xuất nổi” đã hình thành trên các lòng hồ này.

Hiện nay, nuôi cá lồng, bè là hình thức nuôi trồng chủ đạo tại các hồ lớn ở miền bắc. Tổng số lồng nuôi đã lên tới hơn 22.000 lồng, cho sản lượng khoảng 50.000 tấn mỗi năm. Những con số này cho thấy, mặt nước hồ đã trở thành sinh kế thật sự của hàng chục nghìn hộ dân.

Không chỉ mở rộng về quy mô, năng suất nuôi cũng đang dần tiệm cận các mô hình thâm canh. Ở một số điển hình, khối lượng cá thu được tính theo mét khối nước khá cao nếu so nhiều vùng nuôi nội địa khác: cá mè đạt khoảng 50kg/m³, trắm đen 30–35kg/m³, cá lăng 25–30kg/m³.

Những kết quả này là cơ sở để cơ quan quản lý đặt ra các mục tiêu tham vọng hơn. Theo Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026–2030 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, đến năm 2030, sản lượng dự kiến đạt trên 260.000 tấn mỗi năm, với tổng giá trị khoảng 16.000 tỷ đồng. Đồng thời, hơn 50% cơ sở nuôi sẽ tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc chuỗi liên kết, và 100% cơ sở được cập nhật trên cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản.

Những “nút thắt” dưới mặt hồ

Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng ấy là một thực tế khác với nhiều tầng nấc khó khăn, nơi mỗi mắt xích đều có vấn đề, cộng lại, thành lực cản không nhỏ.

Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản khu vực phía bắc vẫn đang trong quá trình chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa. Phần lớn hoạt động nuôi do các hộ gia đình hoặc cá nhân thực hiện, phân tán, thiếu liên kết chuỗi. Hệ quả là sản lượng có tăng nhưng giá trị gia tăng thấp, chưa tương xứng với tiềm năng mặt nước rộng lớn.

Thực tế này cũng lý giải vì sao, dù đã có hàng chục nghìn lồng nuôi, hoạt động nuôi trồng thủy sản lòng hồ vẫn chưa hình thành một ngành kinh tế có cấu trúc rõ ràng, mà mới dừng lại ở những điểm sáng rời rạc.

Ở góc độ chính sách, TS Lê Thanh Lựu, Hội Thủy sản Việt Nam, thẳng thắn chỉ ra một tồn tại đã kéo dài hơn hai thập kỷ: “Câu chuyện nuôi trồng thủy sản trên hồ chứa đã được bàn từ những năm 2000, nhưng đến nay, vẫn chưa có nhiều chuyển biến đáng kể. Nút thắt đầu tiên nằm ở cơ chế giao mặt nước chưa rõ ràng. Khi quyền tiếp cận tài nguyên chưa được xác lập minh bạch, doanh nghiệp khó có thể đầu tư dài hạn, còn người dân vẫn loay hoay trong sản xuất ngắn hạn. Tiếp đó là bài toán thị trường và tổ chức sản xuất. Chưa xác lập được loài nuôi chủ lực theo chuỗi để có thị trường ổn định, nên rất khó thuyết phục nhà đầu tư tham gia”.

Một vòng luẩn quẩn hình thành: Nếu không có thị trường lớn thì không có nhà đầu tư lớn; mà nếu không có sản xuất quy mô lớn thì cũng không thể tạo ra thị trường đủ hấp dẫn.

Một nút thắt lớn nữa là tài chính: Sản xuất quy mô lớn đòi hỏi nguồn vốn đáng kể, nhưng trong bối cảnh cơ chế chưa rõ ràng và đầu ra chưa ổn định, doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng. Song song đó, hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ vẫn là điểm yếu rõ rệt. Từ giao thông kết nối lòng hồ, hệ thống cấp thoát nước đến dịch vụ giống, thức ăn, tiêu thụ… đều thiếu và chưa đồng bộ. Không có cảng cá, không có hệ thống vận chuyển chuyên dụng, không có nhà máy chế biến – chuỗi giá trị, vì thế, bị “đứt đoạn” ngay từ đầu.

Việc thiếu cơ sở dữ liệu về phân vùng nuôi và sức tải môi trường khiến nhiều nơi phát triển tự phát, tiềm ẩn rủi ro sinh thái. Trong khi đó, một hồ chứa thường liên quan tới nhiều đơn vị quản lý, dẫn tới tình trạng chồng chéo, “nhiều cửa”, gây khó khăn cho tổ chức sản xuất và thu hút đầu tư.

Không chỉ thiếu cơ chế và hạ tầng, ngành này còn thiếu cả nhân lực ở mọi cấp độ từ nhà khoa học, nhà quản lý đến những người tổ chức sản xuất chuyên nghiệp. Mặt khác, tình trạng khai thác tận diệt ở một số nơi, với các hình thức như xung điện, lưới mắt nhỏ… làm suy giảm nguồn lợi và ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường nuôi.

Tiêu điểm: Khai thác tiềm năng nuôi trồng thủy sản hồ chứa

1. Tìm lời giải từ lòng hồ Thác Bà

2. Chìa khóa mở cửa kho báu

Có thể bạn quan tâm

Nông sản Cao Bằng được giới thiệu tại hội chợ du lịch. Ảnh: Hải Nam

Cần một “đường băng” chuyên nghiệp

Nông sản miền núi ngày càng được sản xuất bài bản, nhiều vùng đã đạt tiêu chuẩn VietGAP, OCOP. Thế nhưng, từ ruộng nương ra thị trường vẫn là hành trình nhiều trắc trở. Việc thiếu kênh phân phối ổn định, thiếu liên kết trong chuỗi giá trị và hạn chế về logistics khiến không ít nông dân rơi vào cảnh “được mùa, vẫn lo đầu ra”.

Sản phẩm na Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, được quảng bá trong Phiên chợ nông sản, đặc sản vùng miền diễn ra tại Hà Nội.

Mở rộng kênh phân phối

Bài toán lớn nhất của nông sản miền núi hiện nay không chỉ là sản xuất, mà là tìm đường ra thị trường một cách ổn định, bền vững. Khi sản lượng và chất lượng từng bước được cải thiện, việc đa dạng hóa kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định để nâng cao giá trị sản phẩm.

Một phiên livestream bán nông sản ở Tây Bắc. Ảnh: NVCC

“ Chợ phiên số” gỡ nhiều rào cản

Chỉ với chiếc điện thoại thông minh và kết nối internet, nhiều nông dân và hợp tác xã đã chủ động đưa sản phẩm lên các nền tảng như Facebook, YouTube hay TikTok. Những “chợ phiên số” ấy giúp người bán kết nối trực tiếp với người mua ở khắp nơi, rút ngắn đáng kể khâu trung gian trong chuỗi phân phối.

Nghệ nhân Phương Thanh Hiền (ngồi giữa) - Nhóm trưởng Văn Ca Chúc Thánh trong một vấn hầu tại Quang Minh điện (Sóc Sơn, Hà Nội).

Bảo tồn tinh thần cốt lõi của di sản

Ở không ít nơi, nhất là khu vực đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, các buổi hầu đồng đầu xuân diễn ra trong không khí trang nghiêm. Tiếng phách, tiếng đàn nguyệt cất lên nhịp nhàng. Lời văn vang lên tha thiết, không phô trương mà trầm lắng. Người dự lễ tập trung, dõi theo từng động tác uyển chuyển, từng ánh mắt của thanh đồng.

Thanh đồng Phạm Thị Bằng Ly thực hiện các động tác múa theo hướng dẫn của đồng thầy.

Những người giữ lửa

Một buổi sáng đầu xuân tại Quang Minh điện (xã Sóc Sơn,TP Hà Nội), trong làn khói hương bảng lảng, nghệ nhân Khúc Tâm Anh - Chủ tịch Chi hội Di sản Văn hóa Hồng Châu (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam), cũng là một đồng thầy đã gần năm mươi năm thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu, đang cùng các đệ tử chuẩn bị cho một vấn hầu năm mới.

Trao tặng thẻ bảo hiểm y tế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt tại Phú Thọ. Ảnh: Báo Phú Thọ

Phú Thọ: Hỗ trợ chi phí y tế cho nhiều đối tượng

Từ ngày 1/1, chính sách giảm 20% mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) cho người thứ nhất tham gia theo hình thức hộ gia đình chính thức có hiệu lực. Cùng với đó, nhiều nhóm đối tượng yếu thế tiếp tục được ngân sách hỗ trợ mức đóng cao, góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế và củng cố lưới an sinh xã hội.

Thăm khám cho bệnh nhân sau mổ tại Bệnh viện Đa khoa Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).

Y tế cơ sở được “tiếp sức”

Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) mới chính thức có hiệu lực không chỉ tạo thuận lợi cho người tham gia BHYT, mà còn mang lại tác động trực tiếp, rõ nét đối với hệ thống y tế tuyến cơ sở, nhất là tại các địa bàn miền núi, biên giới như xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Mỏ apatit ở Lào Cai.

Tận dụng hay để dành

Trong bối cảnh khoáng sản chiến lược ngày càng gắn với an ninh công nghiệp và chuyển dịch năng lượng toàn cầu, trung du và miền núi Bắc Bộ không chỉ đứng trước câu hỏi “có khai thác hay không” mà quan trọng hơn là khai thác theo cách nào để giữ lại giá trị cho phát triển lâu dài.

Công trình đập Sabo đầu tiên của Việt Nam tại bản Piệng, tỉnh Sơn La. Ảnh: Bình Minh

Phát triển trong rủi ro

Những năm gần đây, thiên tai và biến đổi khí hậu đang trở thành “phép thử” khắc nghiệt đối với tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam, đặc biệt ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc nơi địa hình chia cắt, độ dốc lớn, cơ sở hạ tầng yếu và điều kiện ứng phó còn hạn chế.

Mô hình trồng băng cỏ xen ngô giúp hạn chế sạt lở, xói mòn. Ảnh: Đức Bình

Mô hình canh tác bền vững

Biến đổi khí hậu khiến nhiều cây trồng truyền thống ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ liên tục mất mùa. Người dân buộc phải đổi cách làm nông, chuyển sang mô hình canh tác bền vững. Nhưng hành trình thích ứng ấy chưa bao giờ dễ dàng.

Bản làng giờ không chỉ an toàn hơn trước thiên tai, mà còn trở thành điểm đến sinh thái hấp dẫn. Ảnh: Nam Nguyễn

Vùng cao xanh hơn sau những mùa mưa lũ

Sau những mùa mưa lũ dữ dội, nhiều nơi đã thay đổi cách sống và hướng phát triển. Người dân học cách làm nhà an toàn, trồng rừng giữ đất, phát triển du lịch sinh thái, biến thiên nhiên từ thử thách thành nguồn sống bền vững.