Bảo tồn tinh thần cốt lõi của di sản

Ở không ít nơi, nhất là khu vực đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, các buổi hầu đồng đầu xuân diễn ra trong không khí trang nghiêm. Tiếng phách, tiếng đàn nguyệt cất lên nhịp nhàng. Lời văn vang lên tha thiết, không phô trương mà trầm lắng. Người dự lễ tập trung, dõi theo từng động tác uyển chuyển, từng ánh mắt của thanh đồng.

Nghệ nhân Phương Thanh Hiền (ngồi giữa) - Nhóm trưởng Văn Ca Chúc Thánh trong một vấn hầu tại Quang Minh điện (Sóc Sơn, Hà Nội).
Nghệ nhân Phương Thanh Hiền (ngồi giữa) - Nhóm trưởng Văn Ca Chúc Thánh trong một vấn hầu tại Quang Minh điện (Sóc Sơn, Hà Nội).

Khoảnh khắc ấy, người ta cảm nhận rõ “Đạo Mẫu” không chỉ là nghi lễ, mà là một không gian kết nối - giữa quá khứ và hiện tại, giữa cá nhân và cộng đồng. Theo nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, “Đạo Mẫu” là một hiện tượng đặc biệt trong đời sống tín ngưỡng Việt Nam bởi tính linh hoạt và khả năng thích ứng cao. Nhà nghiên cứu Lê Xuân Tê (Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam) cho rằng, đây là “một hệ thống tín ngưỡng bản địa mang đậm tính nữ quyền và nhân văn”. Ông cho rằng giá trị lớn nhất của “Đạo Mẫu” không nằm ở hình thức nghi lễ, mà ở triết lý tôn vinh Mẹ - biểu tượng của sự che chở và sinh thành.

Sau khi được UNESCO ghi danh năm 2016, nhiều cơ hội mở ra nhưng đồng thời áp lực cũng gia tăng. Theo các chuyên gia, vấn đề lớn nhất hiện nay là sự “biến tướng” do thương mại hóa. Khi nghi lễ bị chạy theo hình thức hoành tráng, giá trị nghệ thuật và tâm linh dễ bị lệch chuẩn.

Từ góc độ quản lý văn hóa, các chuyên gia đề xuất ba trụ cột bảo tồn: Thứ nhất, chuẩn hóa tri thức. Cần xây dựng bộ tài liệu hướng dẫn nghi lễ căn bản dựa trên tư liệu khoa học và ý kiến nghệ nhân. Việc đào tạo cung văn trẻ, truyền dạy hát chầu văn cần được tổ chức bài bản, tránh sai lệch. Thứ hai, tăng cường vai trò cộng đồng. Chủ thể thực hành phải được tham gia vào quá trình hoạch định chính sách. Sự áp đặt hành chính đơn thuần có thể khiến di sản mất tính tự nhiên. Thứ ba, truyền thông đúng hướng. Cần phân biệt rõ tín ngưỡng dân gian với mê tín dị đoan. Những chương trình truyền thông, hội thảo khoa học, ấn phẩm chuyên khảo sẽ giúp công chúng hiểu đúng giá trị.

Một số chuyên gia cũng nhấn mạnh vai trò của các trung tâm thực hành lớn như Phủ Dầy, Phủ Tây Hồ trong việc giữ chuẩn nghi lễ truyền thống. Đây có thể trở thành “trường học sống” cho những người thực hành trẻ. Tác giả Bình An vừa ra mắt cuốn sách “Chấn hưng tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ” (Nhà xuất bản Hội Nhà văn), hiện là Phó Trưởng ban Thông tin-Truyền thông Hội Nghệ nhân và Thương hiệu Việt Nam; Trưởng ban Thư ký Viện Nghiên cứu và Phát triển Đạo Mẫu Việt Nam - người từng có kinh nghiệm thực địa kéo dài hơn một thập niên (2014-2026) với những chuyến điền dã tại nhiều địa phương khu vực miền núi, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ, quan sát hàng trăm vấn hầu, trò chuyện cùng nghệ nhân, các thanh đồng, người hành lễ và nhà quản lý, đã tạo nên chất liệu sống động cho cuốn sách. Từ những quan sát thực tế, nhà nghiên cứu này nêu ý kiến, chấn hưng văn hóa không thể chỉ trông chờ vào các quy định hành chính, mà cần sự đồng hành của cộng đồng, sự tỉnh táo của truyền thông và ý thức tự điều chỉnh từ chính người thực hành. Khái niệm “Tâm - Lễ - Đạo” được nhấn mạnh như trục giá trị cốt lõi: giữ tâm sáng, giữ lễ đúng và sống theo đạo lý dân gian - thì tín ngưỡng thờ Mẫu sẽ được thực hành và giữ gìn đúng mực, phát huy giá trị thực chất của di sản.

z7556481676729-08efb1268ace11976d6397ae30025aaa.jpg
Lễ phục phù hợp luôn được nghệ nhân Khúc Tâm Anh cẩn trọng lựa chọn để hành lễ.

Từ góc nhìn chuyên môn, bảo tồn “Đạo Mẫu” không phải là giữ nguyên mọi hình thức, mà là bảo tồn tinh thần cốt lõi: lòng thành, tính nhân văn và sự hài hòa giữa con người với tự nhiên. Khi những yếu tố ấy còn được duy trì, di sản sẽ tiếp tục thích ứng với đời sống hiện đại mà không đánh mất bản sắc.

Có thể bạn quan tâm

Thanh đồng Phạm Thị Bằng Ly thực hiện các động tác múa theo hướng dẫn của đồng thầy.

Những người giữ lửa

Một buổi sáng đầu xuân tại Quang Minh điện (xã Sóc Sơn,TP Hà Nội), trong làn khói hương bảng lảng, nghệ nhân Khúc Tâm Anh - Chủ tịch Chi hội Di sản Văn hóa Hồng Châu (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam), cũng là một đồng thầy đã gần năm mươi năm thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu, đang cùng các đệ tử chuẩn bị cho một vấn hầu năm mới.

Trao tặng thẻ bảo hiểm y tế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt tại Phú Thọ. Ảnh: Báo Phú Thọ

Phú Thọ: Hỗ trợ chi phí y tế cho nhiều đối tượng

Từ ngày 1/1, chính sách giảm 20% mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) cho người thứ nhất tham gia theo hình thức hộ gia đình chính thức có hiệu lực. Cùng với đó, nhiều nhóm đối tượng yếu thế tiếp tục được ngân sách hỗ trợ mức đóng cao, góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế và củng cố lưới an sinh xã hội.

Thăm khám cho bệnh nhân sau mổ tại Bệnh viện Đa khoa Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).

Y tế cơ sở được “tiếp sức”

Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) mới chính thức có hiệu lực không chỉ tạo thuận lợi cho người tham gia BHYT, mà còn mang lại tác động trực tiếp, rõ nét đối với hệ thống y tế tuyến cơ sở, nhất là tại các địa bàn miền núi, biên giới như xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Mỏ apatit ở Lào Cai.

Tận dụng hay để dành

Trong bối cảnh khoáng sản chiến lược ngày càng gắn với an ninh công nghiệp và chuyển dịch năng lượng toàn cầu, trung du và miền núi Bắc Bộ không chỉ đứng trước câu hỏi “có khai thác hay không” mà quan trọng hơn là khai thác theo cách nào để giữ lại giá trị cho phát triển lâu dài.

Công trình đập Sabo đầu tiên của Việt Nam tại bản Piệng, tỉnh Sơn La. Ảnh: Bình Minh

Phát triển trong rủi ro

Những năm gần đây, thiên tai và biến đổi khí hậu đang trở thành “phép thử” khắc nghiệt đối với tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam, đặc biệt ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc nơi địa hình chia cắt, độ dốc lớn, cơ sở hạ tầng yếu và điều kiện ứng phó còn hạn chế.

Mô hình trồng băng cỏ xen ngô giúp hạn chế sạt lở, xói mòn. Ảnh: Đức Bình

Mô hình canh tác bền vững

Biến đổi khí hậu khiến nhiều cây trồng truyền thống ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ liên tục mất mùa. Người dân buộc phải đổi cách làm nông, chuyển sang mô hình canh tác bền vững. Nhưng hành trình thích ứng ấy chưa bao giờ dễ dàng.

Bản làng giờ không chỉ an toàn hơn trước thiên tai, mà còn trở thành điểm đến sinh thái hấp dẫn. Ảnh: Nam Nguyễn

Vùng cao xanh hơn sau những mùa mưa lũ

Sau những mùa mưa lũ dữ dội, nhiều nơi đã thay đổi cách sống và hướng phát triển. Người dân học cách làm nhà an toàn, trồng rừng giữ đất, phát triển du lịch sinh thái, biến thiên nhiên từ thử thách thành nguồn sống bền vững.