Tìm lời giải từ lòng hồ Thác Bà

Từng là “vựa cá” nổi tiếng miền bắc, hồ Thác Bà, tỉnh Lào Cai, đang được kỳ vọng hồi sinh bằng mô hình nuôi trồng thủy sản sinh thái: Doanh nghiệp thả giống, hỗ trợ sinh kế cho người dân các tổ cộng đồng để cùng quản lý mặt hồ.

Nhân viên Công ty Vietfood VN thả cá giống xuống lòng hồ Thác Bà năm 2024.
Nhân viên Công ty Vietfood VN thả cá giống xuống lòng hồ Thác Bà năm 2024.

Nhưng hành trình đánh thức tiềm năng ấy đồng thời đặt ra bài toán phải tổ chức lại kinh tế hồ chứa theo hướng bền vững.

Không chỉ nuôi cá đơn thuần, mô hình nuôi trồng thủy sản sinh thái hướng tới tái tạo nguồn lợi tự nhiên, xây dựng thương hiệu “cá sinh thái Thác Bà” và tạo sinh kế bền vững cho cư dân vùng hồ.

Cuối năm 2024, Công ty cổ phần Nuôi trồng và Chế biến Thủy sản Việt Nam (Vietfood VN) phối hợp với Sở Nông nghiệp-Phát triển nông thôn Yên Bái (nay thuộc Sở Nông nghiệp và Môi trường Lào Cai) thả trên 10 triệu con giống, như mè, trôi, trắm..., hướng tới mô hình nuôi cá gần tự nhiên quy mô lớn, thân thiện môi trường, phù hợp hệ sinh thái lòng hồ. Từ đó, các tổ cộng đồng quản lý cũng ra đời.

Theo ông Lý Mạnh Linh, Phó Chủ tịch UBND xã Ngọc Chấn, mô hình này tập hợp những người trước đây khai thác tự phát thành lực lượng có tổ chức, theo Điều 10, Luật Thủy sản 2017. Người dân không còn đánh bắt đơn lẻ mà trở thành thành viên có trách nhiệm, đồng thời là đối tác của doanh nghiệp.

Nếu vận hành hiệu quả, hồ Thác Bà sẽ không chỉ là nơi khai thác tự nhiên, mà mở ra không gian kinh tế cộng sinh, nơi doanh nghiệp đầu tư, người dân cùng bảo vệ và hưởng lợi từ nguồn lợi thủy sản được tái tạo bền vững.

Tuy nhiên, theo bà Lương Thị Phương Thảo, Tổng Giám đốc Vietfood VN, quá trình triển khai cho thấy rào cản lớn nhất không nằm ở kỹ thuật hay vốn đầu tư, mà ở sự thiếu đồng bộ trong quản lý khai thác nguồn lợi trên hồ.

Doanh nghiệp phải hoàn thiện đầy đủ thủ tục, đầu tư con giống, nhân lực, tài chính, trong khi, nhiều người dân địa phương hoặc người từ nơi khác đến vẫn khai thác tự do, không xin phép, không đăng ký, không tuân thủ quy định an toàn giao thông đường thủy. Ai đánh bắt được bao nhiêu thì thu về bấy nhiêu. Điều này khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư dài hạn. Bà Thảo chia sẻ: “Không có nhà đầu tư nào sẵn sàng rót vốn lớn nếu nguồn lợi mình bỏ tiền gây dựng lại bị khai thác vô tội vạ”.

Một bất cập khác là tình trạng đánh bắt tận diệt vẫn tồn tại: Vó lưới mắt nhỏ kết hợp với ánh sáng đèn, xung điện, kích điện, thậm chí chặn các eo ngách bằng lưới hoặc đắp đập để vét cá. Trong khi đó, doanh nghiệp không có thẩm quyền xử lý vi phạm, còn lực lượng kiểm tra mỏng, diện tích hồ rộng, địa bàn trải dài qua nhiều xã nên việc kiểm soát rất khó khăn.

Hệ thống pháp luật hiện nay, như Luật Thủy sản 2017 chủ yếu thiết kế cho khai thác biển, trong khi hồ chứa là vùng nước nội địa bán tự nhiên, có đặc thù rất khác. Ranh giới giữa cá tự nhiên và cá doanh nghiệp thả tái tạo không thể xác định rõ. Muốn triển khai một dự án phải đi qua nhiều cơ quan: nông nghiệp và môi trường, giao thông, thủy điện, du lịch, chính quyền địa phương…, nhưng lại thiếu đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng.

Bà Thảo cho rằng cần một cơ chế quản lý minh bạch hơn: Không cấm người dân khai thác, nhưng phải cấp phép, quản lý nghề khai thác, tổ chức đồng quản lý để người dân cùng bảo vệ nguồn lợi và cùng chia sẻ lợi ích. Chỉ khi người dân trở thành chủ thể trong chuỗi giá trị, thay vì đứng ngoài cuộc chơi, kinh tế thủy sản hồ chứa mới có thể phát triển bền vững.

ngu-dan-bat-ca.jpg
Niềm vui của ngư dân khi bắt được cá lớn ở lòng hồ Thác Bà. Ảnh: Đỗ Doãn Hoàng

Có thể bạn quan tâm

Nông sản Cao Bằng được giới thiệu tại hội chợ du lịch. Ảnh: Hải Nam

Cần một “đường băng” chuyên nghiệp

Nông sản miền núi ngày càng được sản xuất bài bản, nhiều vùng đã đạt tiêu chuẩn VietGAP, OCOP. Thế nhưng, từ ruộng nương ra thị trường vẫn là hành trình nhiều trắc trở. Việc thiếu kênh phân phối ổn định, thiếu liên kết trong chuỗi giá trị và hạn chế về logistics khiến không ít nông dân rơi vào cảnh “được mùa, vẫn lo đầu ra”.

Sản phẩm na Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, được quảng bá trong Phiên chợ nông sản, đặc sản vùng miền diễn ra tại Hà Nội.

Mở rộng kênh phân phối

Bài toán lớn nhất của nông sản miền núi hiện nay không chỉ là sản xuất, mà là tìm đường ra thị trường một cách ổn định, bền vững. Khi sản lượng và chất lượng từng bước được cải thiện, việc đa dạng hóa kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định để nâng cao giá trị sản phẩm.

Một phiên livestream bán nông sản ở Tây Bắc. Ảnh: NVCC

“ Chợ phiên số” gỡ nhiều rào cản

Chỉ với chiếc điện thoại thông minh và kết nối internet, nhiều nông dân và hợp tác xã đã chủ động đưa sản phẩm lên các nền tảng như Facebook, YouTube hay TikTok. Những “chợ phiên số” ấy giúp người bán kết nối trực tiếp với người mua ở khắp nơi, rút ngắn đáng kể khâu trung gian trong chuỗi phân phối.

Nghệ nhân Phương Thanh Hiền (ngồi giữa) - Nhóm trưởng Văn Ca Chúc Thánh trong một vấn hầu tại Quang Minh điện (Sóc Sơn, Hà Nội).

Bảo tồn tinh thần cốt lõi của di sản

Ở không ít nơi, nhất là khu vực đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, các buổi hầu đồng đầu xuân diễn ra trong không khí trang nghiêm. Tiếng phách, tiếng đàn nguyệt cất lên nhịp nhàng. Lời văn vang lên tha thiết, không phô trương mà trầm lắng. Người dự lễ tập trung, dõi theo từng động tác uyển chuyển, từng ánh mắt của thanh đồng.

Thanh đồng Phạm Thị Bằng Ly thực hiện các động tác múa theo hướng dẫn của đồng thầy.

Những người giữ lửa

Một buổi sáng đầu xuân tại Quang Minh điện (xã Sóc Sơn,TP Hà Nội), trong làn khói hương bảng lảng, nghệ nhân Khúc Tâm Anh - Chủ tịch Chi hội Di sản Văn hóa Hồng Châu (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam), cũng là một đồng thầy đã gần năm mươi năm thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu, đang cùng các đệ tử chuẩn bị cho một vấn hầu năm mới.

Trao tặng thẻ bảo hiểm y tế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt tại Phú Thọ. Ảnh: Báo Phú Thọ

Phú Thọ: Hỗ trợ chi phí y tế cho nhiều đối tượng

Từ ngày 1/1, chính sách giảm 20% mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) cho người thứ nhất tham gia theo hình thức hộ gia đình chính thức có hiệu lực. Cùng với đó, nhiều nhóm đối tượng yếu thế tiếp tục được ngân sách hỗ trợ mức đóng cao, góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế và củng cố lưới an sinh xã hội.

Thăm khám cho bệnh nhân sau mổ tại Bệnh viện Đa khoa Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).

Y tế cơ sở được “tiếp sức”

Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) mới chính thức có hiệu lực không chỉ tạo thuận lợi cho người tham gia BHYT, mà còn mang lại tác động trực tiếp, rõ nét đối với hệ thống y tế tuyến cơ sở, nhất là tại các địa bàn miền núi, biên giới như xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Mỏ apatit ở Lào Cai.

Tận dụng hay để dành

Trong bối cảnh khoáng sản chiến lược ngày càng gắn với an ninh công nghiệp và chuyển dịch năng lượng toàn cầu, trung du và miền núi Bắc Bộ không chỉ đứng trước câu hỏi “có khai thác hay không” mà quan trọng hơn là khai thác theo cách nào để giữ lại giá trị cho phát triển lâu dài.

Công trình đập Sabo đầu tiên của Việt Nam tại bản Piệng, tỉnh Sơn La. Ảnh: Bình Minh

Phát triển trong rủi ro

Những năm gần đây, thiên tai và biến đổi khí hậu đang trở thành “phép thử” khắc nghiệt đối với tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam, đặc biệt ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc nơi địa hình chia cắt, độ dốc lớn, cơ sở hạ tầng yếu và điều kiện ứng phó còn hạn chế.

Mô hình trồng băng cỏ xen ngô giúp hạn chế sạt lở, xói mòn. Ảnh: Đức Bình

Mô hình canh tác bền vững

Biến đổi khí hậu khiến nhiều cây trồng truyền thống ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ liên tục mất mùa. Người dân buộc phải đổi cách làm nông, chuyển sang mô hình canh tác bền vững. Nhưng hành trình thích ứng ấy chưa bao giờ dễ dàng.

Bản làng giờ không chỉ an toàn hơn trước thiên tai, mà còn trở thành điểm đến sinh thái hấp dẫn. Ảnh: Nam Nguyễn

Vùng cao xanh hơn sau những mùa mưa lũ

Sau những mùa mưa lũ dữ dội, nhiều nơi đã thay đổi cách sống và hướng phát triển. Người dân học cách làm nhà an toàn, trồng rừng giữ đất, phát triển du lịch sinh thái, biến thiên nhiên từ thử thách thành nguồn sống bền vững.