Cần một “đường băng” chuyên nghiệp

Nông sản miền núi ngày càng được sản xuất bài bản, nhiều vùng đã đạt tiêu chuẩn VietGAP, OCOP. Thế nhưng, từ ruộng nương ra thị trường vẫn là hành trình nhiều trắc trở. Việc thiếu kênh phân phối ổn định, thiếu liên kết trong chuỗi giá trị và hạn chế về logistics khiến không ít nông dân rơi vào cảnh “được mùa, vẫn lo đầu ra”.

Nông sản Cao Bằng được giới thiệu tại hội chợ du lịch. Ảnh: Hải Nam
Nông sản Cao Bằng được giới thiệu tại hội chợ du lịch. Ảnh: Hải Nam

Kênh phân phối còn hạn chế

Ở nhiều vùng miền núi, nông dân vẫn đang loay hoay tìm đường ra thị trường cho nhiều đặc sản, như xoài, nhãn, mật ong, dược liệu hay rau quả.

Dù có lợi thế tự nhiên và sản phẩm đặc trưng, phần lớn lượng nông sản vùng cao vẫn chỉ được tiêu thụ trong phạm vi hẹp, qua các kênh truyền thống như chợ dân sinh, thương lái hoặc các điểm bán nhỏ lẻ. Việc tiếp cận các hệ thống phân phối hiện đại, như hệ thống siêu thị hay chuỗi bán lẻ lớn, vẫn là “cánh cửa hẹp”.

Nguyên nhân không chỉ nằm ở hạ tầng giao thông và vận tải còn hạn chế, khiến chi phí vận chuyển từ vùng sản xuất đến các trung tâm tiêu thụ khá cao, mà còn ở việc nhiều sản phẩm chưa đáp ứng đầy đủ những điều kiện bắt buộc của các kênh phân phối hiện đại về truy xuất nguồn gốc, bao bì, tiêu chuẩn chất lượng. Nhiều hợp tác xã cho biết, dù có sản phẩm đạt tiêu chuẩn nhưng vẫn gặp khó do thiếu kinh nghiệm xây dựng thương hiệu, hạn chế về đóng gói, bảo quản và chưa bảo đảm nguồn cung ổn định.

Gia đình anh Lường Văn Hòa ở xã Chiềng Hặc, tỉnh Sơn La, dù đã chuyển sang trồng xoài theo quy trình an toàn, nhưng mỗi mùa thu hoạch vẫn thấp thỏm chờ thương lái lên mua. Gia đình từng thử tìm cách đưa xoài vào siêu thị, nhưng vướng các yêu cầu về đóng gói, truy xuất nguồn gốc và sản lượng ổn định nên hầu như vẫn phải bán buôn với giá bấp bênh.

Ngay cả phía nhà phân phối cũng gặp nhiều trở ngại khi đưa đặc sản vùng cao ra thị trường. Bà Nguyễn Thị Dân, đại diện đơn vị kinh doanh thực phẩm sạch Bác Tôm cho biết, các đặc sản vùng miền hiện chiếm khoảng 60–70% doanh thu của hệ thống, nhưng việc tiêu thụ không dễ. Phần lớn nông sản miền núi được canh tác thuận tự nhiên, ít ứng dụng khoa học kỹ thuật nên sản lượng thấp và không ổn định. Vì vậy, mỗi lần nhập hàng, cửa hàng thường phải chờ gom khoảng 200-300 kg, đủ một chuyến xe, để tiết kiệm chi phí vận chuyển và hậu cần.

Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán cũng khiến chuỗi cung ứng khó hình thành bền vững. Trong khi đó, các hệ thống phân phối hiện đại lại đòi hỏi nguồn hàng đồng đều và cung ứng lâu dài. Cùng với đó, chi phí ban đầu để đưa nông sản vào kênh bán lẻ hiện đại cũng là gánh nặng đối với các hợp tác xã vùng cao.

Chính vì vậy, nhiều đặc sản miền núi vẫn chỉ quanh quẩn ở thị trường địa phương hoặc phụ thuộc vào thương lái. Khi vào mùa thu hoạch rộ, lượng cung tăng mạnh trong khi kênh tiêu thụ hạn chế, nông sản ở không ít vùng cao lại rơi vào tình trạng “được mùa nhưng khó bán”.

Mở rộng và chuyên nghiệp hóa con đường tiêu thụ sản phẩm

Một vấn đề khác là sự thiếu liên kết giữa các khâu trong chuỗi giá trị nông sản. Ở nhiều địa phương, nông dân vẫn sản xuất theo kinh nghiệm, chưa gắn chặt với nhu cầu thị trường. Khi sản lượng tăng mạnh vào chính vụ, cung vượt cầu khiến giá nông sản dễ rơi vào tình trạng bị giảm sâu.

Theo chuyên gia nông nghiệp Hoàng Trọng Thủy, trở ngại lớn nhất khiến nông sản miền núi khó bước vào hệ thống phân phối hiện đại nằm ở cách tổ chức chuỗi giá trị. Từ sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún, đến khâu sơ chế, chế biến chưa được đầu tư bài bản, tất cả khiến nguồn cung thiếu ổn định và khó đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp bán lẻ. Bên cạnh đó, khoảng cách xa thị trường tiêu thụ trong khi hệ thống bảo quản sau thu hoạch còn hạn chế khiến chất lượng nông sản dễ suy giảm trên đường lưu thông.

Ông Thủy nhấn mạnh, khi ba khâu then chốt là sơ chế, chế biến và vận tải, hậu cần (logistics) chưa được hoàn thiện đồng bộ, nông sản rất khó tham gia một cách bền vững vào các kênh phân phối hiện đại.

Một nghịch lý đáng chú ý là trong khi nhiều nông sản Việt Nam được xuất khẩu với giá trị cao, thị trường nội địa lại chưa được khai thác hiệu quả. Người tiêu dùng ở các đô thị lớn đôi khi khó tiếp cận những sản phẩm nông sản chất lượng cao từ các vùng sản xuất.

Nhiều chuyên gia cho rằng, hệ thống phân phối nội địa cần được xem như “đường băng” để nông sản cất cánh. Trong nền kinh tế thị trường, giá trị của nông sản không chỉ nằm ở sản xuất mà còn ở cách tổ chức phân phối. Khi những “con đường” tiêu thụ được mở rộng và chuyên nghiệp hóa, nông sản Việt mới có thể đi xa – ngay cả trên chính thị trường trong nước.

Theo ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Thị trường trong nước (Bộ Công thương), tỷ lệ các sản phẩm miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo xuất hiện trên kệ hàng của các siêu thị và hệ thống bán lẻ hiện nay còn thấp. Một số chương trình hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm vẫn mang tính hình thức, thiếu đồng bộ và chưa tạo được sự bền vững. Các hoạt động xúc tiến thương mại thường mang tính thời vụ, chưa xây dựng được thị trường ổn định cho các sản phẩm đặc sản.

Tiêu điểm: Loay hoay tìm đầu ra cho nông sản

1. “ Chợ phiên số” gỡ nhiều rào cản

2. Mở rộng kênh phân phối

Có thể bạn quan tâm

Sản phẩm na Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, được quảng bá trong Phiên chợ nông sản, đặc sản vùng miền diễn ra tại Hà Nội.

Mở rộng kênh phân phối

Bài toán lớn nhất của nông sản miền núi hiện nay không chỉ là sản xuất, mà là tìm đường ra thị trường một cách ổn định, bền vững. Khi sản lượng và chất lượng từng bước được cải thiện, việc đa dạng hóa kênh phân phối trở thành yếu tố quyết định để nâng cao giá trị sản phẩm.

Một phiên livestream bán nông sản ở Tây Bắc. Ảnh: NVCC

“ Chợ phiên số” gỡ nhiều rào cản

Chỉ với chiếc điện thoại thông minh và kết nối internet, nhiều nông dân và hợp tác xã đã chủ động đưa sản phẩm lên các nền tảng như Facebook, YouTube hay TikTok. Những “chợ phiên số” ấy giúp người bán kết nối trực tiếp với người mua ở khắp nơi, rút ngắn đáng kể khâu trung gian trong chuỗi phân phối.

Nghệ nhân Phương Thanh Hiền (ngồi giữa) - Nhóm trưởng Văn Ca Chúc Thánh trong một vấn hầu tại Quang Minh điện (Sóc Sơn, Hà Nội).

Bảo tồn tinh thần cốt lõi của di sản

Ở không ít nơi, nhất là khu vực đồng bằng và miền núi Bắc Bộ, các buổi hầu đồng đầu xuân diễn ra trong không khí trang nghiêm. Tiếng phách, tiếng đàn nguyệt cất lên nhịp nhàng. Lời văn vang lên tha thiết, không phô trương mà trầm lắng. Người dự lễ tập trung, dõi theo từng động tác uyển chuyển, từng ánh mắt của thanh đồng.

Thanh đồng Phạm Thị Bằng Ly thực hiện các động tác múa theo hướng dẫn của đồng thầy.

Những người giữ lửa

Một buổi sáng đầu xuân tại Quang Minh điện (xã Sóc Sơn,TP Hà Nội), trong làn khói hương bảng lảng, nghệ nhân Khúc Tâm Anh - Chủ tịch Chi hội Di sản Văn hóa Hồng Châu (Hội Di sản Văn hóa Việt Nam), cũng là một đồng thầy đã gần năm mươi năm thực hành nghi lễ tín ngưỡng thờ Mẫu, đang cùng các đệ tử chuẩn bị cho một vấn hầu năm mới.

Trao tặng thẻ bảo hiểm y tế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt tại Phú Thọ. Ảnh: Báo Phú Thọ

Phú Thọ: Hỗ trợ chi phí y tế cho nhiều đối tượng

Từ ngày 1/1, chính sách giảm 20% mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) cho người thứ nhất tham gia theo hình thức hộ gia đình chính thức có hiệu lực. Cùng với đó, nhiều nhóm đối tượng yếu thế tiếp tục được ngân sách hỗ trợ mức đóng cao, góp phần giảm gánh nặng chi phí y tế và củng cố lưới an sinh xã hội.

Thăm khám cho bệnh nhân sau mổ tại Bệnh viện Đa khoa Phong Thổ (tỉnh Lai Châu).

Y tế cơ sở được “tiếp sức”

Chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) mới chính thức có hiệu lực không chỉ tạo thuận lợi cho người tham gia BHYT, mà còn mang lại tác động trực tiếp, rõ nét đối với hệ thống y tế tuyến cơ sở, nhất là tại các địa bàn miền núi, biên giới như xã Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

Mỏ apatit ở Lào Cai.

Tận dụng hay để dành

Trong bối cảnh khoáng sản chiến lược ngày càng gắn với an ninh công nghiệp và chuyển dịch năng lượng toàn cầu, trung du và miền núi Bắc Bộ không chỉ đứng trước câu hỏi “có khai thác hay không” mà quan trọng hơn là khai thác theo cách nào để giữ lại giá trị cho phát triển lâu dài.

Công trình đập Sabo đầu tiên của Việt Nam tại bản Piệng, tỉnh Sơn La. Ảnh: Bình Minh

Phát triển trong rủi ro

Những năm gần đây, thiên tai và biến đổi khí hậu đang trở thành “phép thử” khắc nghiệt đối với tiến trình phát triển bền vững của Việt Nam, đặc biệt ở khu vực trung du và miền núi phía Bắc nơi địa hình chia cắt, độ dốc lớn, cơ sở hạ tầng yếu và điều kiện ứng phó còn hạn chế.

Mô hình trồng băng cỏ xen ngô giúp hạn chế sạt lở, xói mòn. Ảnh: Đức Bình

Mô hình canh tác bền vững

Biến đổi khí hậu khiến nhiều cây trồng truyền thống ở vùng trung du và miền núi Bắc Bộ liên tục mất mùa. Người dân buộc phải đổi cách làm nông, chuyển sang mô hình canh tác bền vững. Nhưng hành trình thích ứng ấy chưa bao giờ dễ dàng.

Bản làng giờ không chỉ an toàn hơn trước thiên tai, mà còn trở thành điểm đến sinh thái hấp dẫn. Ảnh: Nam Nguyễn

Vùng cao xanh hơn sau những mùa mưa lũ

Sau những mùa mưa lũ dữ dội, nhiều nơi đã thay đổi cách sống và hướng phát triển. Người dân học cách làm nhà an toàn, trồng rừng giữ đất, phát triển du lịch sinh thái, biến thiên nhiên từ thử thách thành nguồn sống bền vững.