Từ báo Khởi nghĩa
Mùa đông năm 1943, Liên Xô tiêu diệt 30 vạn quân Đức, bắt sống Thống chế Paolut, giải phóng Stalingrat… Bốn người Giang Đức Tuệ, Phí Văn Bái, Nguyễn Trí Uẩn và Nguyễn Phong từng tổ chức in và phát truyền đơn trong những ngày kỷ niệm cách mạng bàn bạc: Những tin tức phấn khởi, cổ động lòng dân, mà cứ chờ báo Cờ giải phóng và báo Cứu quốc thì lâu quá. Họ đề nghị với đồng chí Lê Quang Đạo - Bí thư Ban Cán sự Hà Nội (nay là Bí thư Thành ủy) được ra một tờ báo.
Bấy giờ báo chỉ có thể in litô - tức in đá, hoặc in bản khắc gỗ. May mắn cấp trên cử ông Nguyễn Ngọc Ái về dạy cách viết chữ ngược, và cách in đá (năm 1947, ông Nguyễn Ngọc Ái bị phản động sát hại ở Phát Diệm).
Người được cử đi học in litô là ông Nguyễn Văn Hàm (tức Lang, cán bộ hưu trí Sở Văn hóa Hà Nội). Người được cử học khắc gỗ là Lý Văn Lợi (mất năm 1950) quê thị xã Hải Dương. Hai ông phải làm việc trên gác nhỏ, sát nóc nhà số 101 phố Hàng Đào. Đây là nhà riêng của gia đình ông Nguyễn Trí Uẩn, họ làm việc bí mật, ngay người trong nhà cũng không ai biết.
Người được cử đi mua đá, mua mực riêng in đá… là ông Lê Văn Thịnh (tức Lê Lích). Phải vào chùa Trầm (nay thuộc phường Chương Mỹ, Hà Nội), ông Lê Lích mới mua được phiến đá phù hợp cho việc in rồi chuyển qua các điểm trung gian khác nhau mới đến cơ quan in.
“Giấy in báo là thứ hàng cấm rất ngặt - cụ Phí Văn Bái kể lại - Chúng tôi phải mua ít một để ở cửa hàng sách Bình Minh số 200 phố Huế của đồng chí Giang Đức Tuệ và hiệu Bắc Hà ở Gia Lâm của nhà báo Thanh Đạm (tức Đặng Đình Chẩn, nguyên Phó Trưởng ban Bạn đọc - Báo Nhân Dân) cho hợp pháp. Mua giấu, khi mang đi cũng phải giấu, và cũng phải chuyển nhiều địa điểm mới đến cơ quan in”.
Tên tờ báo được bốn người trao đổi, cuối cùng quyết định lấy tên là Khởi nghĩa, các bài viết căn cứ vào tên tờ báo mà viết.
Số 1 báo Khởi nghĩa ra mắt tháng 10/1944 đề chủ nhiệm kiêm chủ bút là ông Nguyễn Trí Uẩn.
Đến báo Tuốt kiếm
“Cuối tháng 12/1944, có tin quân giải phóng đánh chiếm mấy đồn Pháp ở Việt Bắc. Nhân dân càng sôi sục muốn biết tin tức - cụ Phí Văn Bái kể tiếp - đồng chí Vũ Quý - người thay đồng chí Lê Quang Đạo họp với chúng tôi, chủ trương tiếp tục ra báo, đáp ứng nguyện vọng của Nhân dân và giao cho tôi và đồng chí Nguyễn Phong”.
Đang cân nhắc địa điểm nào tốt nhất thì tối 9/3/1945 Nhật đảo chính Pháp. Trước tình hình thuận lợi, ông Phí Văn Bái và ông Nguyễn Phong quyết định in báo ngay ở nội thành, tại ngõ 149 phố Huế cạnh trường tư thục Thành Nhân.
Một thuận lợi nữa là giấy mực mua về để ở hiệu sách Bình Minh lúc này của chị Hồng Nhật (vợ nhà báo Trần Trung Phương - KMS) - một bạn quen, hiểu và giúp đỡ chúng tôi. Cửa hàng sách là của chị ở ngay phía bên kia đường, xế cửa trường Thành Nhân.
Tên báo là gì, có nên dùng tên Khởi nghĩa nữa không? Tôi, đồng chí Nguyễn Phong và đồng chí Dương Thành Ưng cùng bàn bạc và nhất trí nhận định: Lúc này là cơ hội ngàn năm có một, chúng ta phải cùng Nhân dân xông ra chiến đấu với bọn phát-xít Nhật, vì vậy tờ báo được đặt tên Tuốt kiếm.
Khi phân công anh em cử tôi làm chủ nhiệm, anh Nguyễn Phong trong ban biên tập, có cả họa sĩ Giang Tô trang trí và vẽ tranh châm biếm, đả kích Nhật.
Cuối tháng 3/1945, số 1 báo Tuốt kiếm ra mắt và cũng như tờ Khởi nghĩa, là cơ quan tuyên truyền của Mặt trận Việt Minh thành Hoàng Diệu (Hà Nội), được quần chúng hoan nghênh, vì đáp ứng được lòng mong mỏi của Nhân dân muốn biết tin tức hoạt động cách mạng của cả nước và từng bước tiến của từng khu vực, từng chiến khu mới thành lập.
Tờ Tuốt kiếm và các phụ trương ra đến tháng 9/1945 thì kết thúc, vì tất cả chúng tôi được điều động đi nhận công tác.
Hồi ức của họa sĩ trình bày báo
Nhớ lại những người cùng làm báo Khởi nghĩa và Tuốt kiếm trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, phần nhiều đều đã mất, chỉ còn lại người họa sĩ trình bày. Cụ Phí Văn Bái giới thiệu tôi tìm gặp họa sĩ Giang Tô (có thời kỳ công tác tại Phòng Mỹ thuật - Ban Thư ký Biên tập Báo Nhân Dân).
Họa sĩ Giang Tô tên khai sinh là Tô Hữu Khang. Ngày trình bày cho tờ báo mới là chàng thanh niên 20 tuổi, xa gia đình, từ miền quê Kiến An (Hải Phòng) lên Hà Nội học, đang chịu đựng bao chật vật, vướng mắc, tính toán của một học trò nghèo…, sau này trở thành họa sĩ với một trường phái riêng độc đáo: Tranh sơn mài khắc (gọi tắt là tranh sơn khắc).
Sinh thời, họa sĩ Giang Tô kể cho tôi nghe những ký ức khi trình bày hai tờ báo Khởi nghĩa và Tuốt Kiếm.
“Trưa hôm ấy sau bữa cơm, anh Bái đi vắng, tôi sắp xếp những vật liệu chuyên môn cần thiết để bắt tay vào công việc. Tôi bổ vào “phòng vẽ” là gian buồng phía sau nhà 149 phố Huế - đó là trường học tư Thành Nhân - bật sáng đèn, kê dọn qua loa, sắp xếp mặt bàn, bày biện dụng cụ, phương tiện ổn định nơi làm việc”, họa sĩ Giang Tô nhớ lại.
Ông vẽ từ lúc 3 giờ chiều, cách quãng bữa cơm rồi làm việc qua đêm tới gần sáng. Sử dụng lối vẽ sở trường là châm biếm, đả kích, người họa sĩ trẻ mê say làm việc. Ông tự động viên mình: “Dẫu sao đây cũng là công tác cách mạng, phải phấn đấu làm cho tốt”.
Miên man tới 4 giờ sáng, họa sĩ Giang Tô đã vẽ xong sáu phác thảo, nhưng ông chỉ chọn ba bức với ba đề tài ưng hơn cả. Ông Giang Tô cuộn cả ba bức rồi chuyển ông Phí Văn Bái mang lên xin ý kiến cấp trên.
“Khoảng tầm trưa anh Bái trở về - họa sĩ Giang Tô kể tiếp - nét mặt hồ hởi, anh nói: Cả ba bức đều sử dụng được cả. Nhưng khởi đầu ta hãy chọn lấy một bức, bức nào sinh động, phù hợp với tình hình lúc này”.
Tôi chọn bức vẽ anh công nhân vóc dáng khỏe mạnh, mặc quần áo, đội mũ lao động dang hai tay cầm chắc cái chổi dài cán, quét hất tên phát-xít Nhật ra Biển Đông. Phía bên phải, một tên thực dân Pháp quỳ gối, lom khom ôm cái mũ cát (casque) vành khum cong, kiểu mũ lính thuộc địa Pháp. Phía sau anh công nhân là dải đất hình chữ S tượng trưng Tổ quốc Việt Nam”...
Xong tất cả mọi công việc chuẩn bị, tổ Việt Minh thành phố Hà Nội do ông Phí Văn Bái và Nguyễn Trí Uẩn chỉ đạo tiến hành dán truyền đơn từ chợ Hôm, rạp chiếu bóng Majestic (Rạp Cách mạng Tháng Tám - phố Hàng Bài hiện nay), Trường Đồng Khánh (nay là Trường Trưng Vương), Nhà hát Lớn phố Tràng Tiền, ga Hàng Cỏ (nay là ga Hà Nội, đường Lê Duẩn)…
7 giờ sáng hôm sau, Nhân dân Hà Nội xôn xao trước cảnh tốp lính Nhật do một sĩ quan và vài tên lính đi bóc những tờ áp-phích vẽ một công nhân đứng trên dải đất hình chữ S cầm chổi hất bọn Nhật xuống biển.
“Vừa bóc, vừa có thái độ hùng hổ, tên sĩ quan Nhật phát-xít thỉnh thoảng rút kiếm chỉ vào tờ áp-phích như đe dọa trước những người xem”, họa sĩ Giang Tô hào hứng nhớ lại kỷ niệm của một thời xa xưa.
Chỉ một thời gian ngắn sau, trong nắng thu Hà Nội, ngày 19/8/1945 biển người đứng lên giành lấy chính quyền với lời hát thúc giục: “Đoàn quân Việt Minh đi… sao vàng phấp phới...” (Văn Cao: Tiến quân ca).