“Chuyển tuyến ảo”, giữ người bệnh ở tuyến cơ sở
Tháng 11/2023, ông LHN, 65 tuổi, ở xã Bất Bạt, đột ngột xuất hiện triệu chứng tê, đau các ngón tay phải, sau đó lan lên cánh tay, nửa người bên phải yếu dần, khó vận động. Sau khi đến một phòng khám tư nhân và được cho thuốc hạ huyết áp về theo dõi nhưng không cải thiện, ông được gia đình đưa đến BV Đa khoa Ba Vì.
Các bác sĩ nhanh chóng nhận định người bệnh có dấu hiệu đột quỵ nhồi máu não. Trong khi đưa bệnh nhân đi chụp CT, bác sĩ Nguyễn Đức Đa, phụ trách Đơn nguyên Cấp cứu, kết nối hội chẩn trực tuyến với các bác sĩ BV Đa khoa Saint-Paun. Chỉ định dùng thuốc tiêu sợi huyết được thống nhất nhanh chóng. Sau cấp cứu, người bệnh được chuyển lên Saint-Paun đánh giá sau can thiệp, sau đó trở lại Ba Vì theo dõi và phục hồi chức năng. Hai ngày sau, sức khỏe bệnh nhân đã hồi phục tốt.
Đây là một trong những trường hợp cho thấy hiệu quả thực tế của mô hình “BV chị - em”, được Hà Nội thí điểm từ tháng 9/2023. BV Đa khoa Saint-Paun, BV Tim Hà Nội và BV Phụ sản Hà Nội được phân công hỗ trợ toàn diện BV Đa khoa Ba Vì và Trung tâm Y tế huyện Ba Vì.
Điểm khác của mô hình là thay vì chủ yếu cử cán bộ tuyến trên xuống hỗ trợ trong từng đợt, hai bệnh viện phối hợp thường xuyên giữa các khoa, phòng; cùng hội chẩn, xử trí cấp cứu, đào tạo và chuyển giao kỹ thuật. Qua hệ thống trực tuyến, bác sĩ tuyến trên có thể trao đổi ca bệnh, xem hình ảnh chẩn đoán và cùng đồng nghiệp tuyến dưới thống nhất hướng điều trị.
Tại Ba Vì, nhiều kỹ thuật trước đây phải chuyển tuyến đã được tiếp nhận và thực hiện thường quy. Tỷ lệ người bệnh xin chuyển tuyến giảm từ khoảng 1,75% xuống 1,35% trong giai đoạn được ghi nhận.
Bác sĩ chuyên khoa II Trần Kiên Quyết, Trưởng Khoa Ngoại tiêu hóa, BV Đa khoa Saint-Paun cho biết: “Việc duy trì hội chẩn trực tuyến giúp bác sĩ hai BV đánh giá những ca bệnh khó kịp thời, từ đó lựa chọn phương án xử trí phù hợp”.
Sau Ba Vì, mô hình được mở rộng. Tại Chương Mỹ, BV Đa khoa Hà Đông và BV Đa khoa Chương Mỹ ký kết hợp tác chuyên môn từ tháng 2/2025.
Theo thỏa thuận, bác sĩ BV Đa khoa Hà Đông định kỳ về Chương Mỹ vào thứ ba và thứ năm để khám, đi buồng, hội chẩn và phẫu thuật những ca bệnh khó. Hai bên duy trì hội chẩn từ xa, đào tạo thực hành và chuyển giao kỹ thuật.
Sau một năm, hai BV đã phối hợp xử trí thành công 97 ca bệnh khó. Lượt khám tại Chương Mỹ tăng 4,47%; điều trị ngoại trú tăng 9,09%; điều trị nội trú tăng 5,97%; số ca phẫu thuật tăng hơn 10%. Đáng chú ý, số người bệnh từ Chương Mỹ đến BV Đa khoa Hà Đông cũng tăng gần 5%. Điều này cho thấy mục tiêu của mô hình không phải giữ người bệnh bằng mọi cách, mà là tạo sự phối hợp để mỗi ca bệnh được điều trị ở cơ sở phù hợp.
TS, BS Nguyễn Thành Vinh, Giám đốc BV Đa khoa Hà Đông, cùng lãnh đạo BV Đa khoa Chương Mỹ thống nhất tiếp tục mở rộng hợp tác, trong đó ưu tiên các lĩnh vực sản - nhi, đào tạo nhân lực và chuyển giao kỹ thuật.
Tháng 8/2026, một trường hợp cấp cứu tại Chương Mỹ tiếp tục cho thấy vai trò của sự kết nối. Nam bệnh nhân 55 tuổi nhập viện trong tình trạng đau ngực dữ dội rồi ngừng tuần hoàn. Sau 35 phút hồi sức, tuần hoàn được tái lập. Người bệnh được chuyển khẩn đến BV Đa khoa Hà Đông. Tại đây, các chuyên khoa Cấp cứu, Tim mạch và Hồi sức tích cực phối hợp, phát hiện tắc hoàn toàn động mạch liên thất trước và tiến hành đặt stent. Sau điều trị, bệnh nhân tỉnh lại, tự thở và huyết động ổn định.
Không mở rộng mô hình máy móc
Từ kết quả bước đầu, Hà Nội tiếp tục định hướng nhân rộng mô hình “BV chị - em”. Kế hoạch số 147/KH-UBND ngày 27/5/2025 về hỗ trợ chuyên môn cho các cấp khám, chữa bệnh đến năm 2030 đặt yêu cầu các BV đầu ngành hỗ trợ tuyến dưới về phát triển nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, cải tiến quy trình và nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh.
Tuy nhiên, nhân rộng mô hình không đồng nghĩa áp dụng một cách máy móc. Thực tế tại Chương Mỹ cho thấy tuyến dưới vẫn thiếu một số dịch vụ cận lâm sàng chuyên sâu; cơ sở vật chất và nhân lực chưa đồng đều. Một bộ phận người dân vẫn có tâm lý lựa chọn BV tuyến trên, ngay cả khi tuyến huyện đã làm chủ một số kỹ thuật.
Vì vậy, cốt lõi của “BV chị - em” là tạo năng lực thực chất cho tuyến dưới. Chuyển giao kỹ thuật phải đi cùng đào tạo thực hành; thiết bị phải đáp ứng yêu cầu; dữ liệu bệnh án, xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh cần được kết nối. Cùng với đó là cơ chế hội chẩn nhanh và chuyển tuyến kịp thời khi người bệnh vượt quá khả năng điều trị tại chỗ.
Đây cũng là hướng Hà Nội đang triển khai khi từng bước kết nối bệnh án điện tử, hệ thống LIS/PACS, mở rộng khám, chữa bệnh từ xa và hình thành mạng lưới hỗ trợ giữa các BV chuyên sâu, BV cơ bản và tuyến ban đầu.
Với người dân, giá trị của mô hình không nằm ở tên gọi “chị - em”, mà ở khả năng tiếp cận dịch vụ y tế ngay tại địa phương, được kết nối với chuyên gia tuyến trên khi cần và được chuyển đến cơ sở phù hợp trong những trường hợp vượt quá khả năng điều trị. Khi được tổ chức bền vững, mô hình có thể góp phần thu hẹp khoảng cách về năng lực chuyên môn giữa các tuyến, củng cố niềm tin của người dân với y tế cơ sở và giảm áp lực cho bệnh viện tuyến trên.