Nhớ mùa đông năm 1972

Một chiều đông giá buốt, trên con phố nhỏ mang tên Phố 8-3, tôi gặp bác Sách, lưng đã còng đi nhưng đôi mắt vẫn sáng. Bác xởi lởi: “Vào nhà bác đi, em Đức cũng sắp đi làm về rồi. Lâu quá chị em chúng mày không gặp nhau”.

Tái hiện hình ảnh trong Triển lãm ký ức Hà Nội.
Tái hiện hình ảnh trong Triển lãm ký ức Hà Nội.

Trong mắt bác, tôi vẫn là cái Thu ở nhà D4 khu tập thể Dệt 8-3 - gia đình bác và mẹ con tôi chung một phòng 16 mét vuông - như thời xa xưa; tôi chịu khó trông bé Đức lúc ấy đã bốn tuổi cho bác an tâm đi làm ca đêm. Bác cháu tôi có một buổi chiều nhớ lại chuyện cổ tích - cái thời đế quốc Mỹ rải thảm bom B52 xuống thành phố. Lũ trẻ như chim non xa mẹ, xa khu tập thể mình đã thuộc trong lòng tay, xa “bác phi lao” cao vút đón gió, xa sân chiếu bóng lưu động, bên kia sân bể nước công cộng bám đầy rêu xanh, nơi chúng tôi đi xếp hàng hứng nước máy công cộng, thường nghe trẻ con cãi nhau chí chóe…

Trí óc khi đã ở tuổi của hàng nửa thế kỷ sau, là cái kho lưu trữ kỳ lạ. Cứ đến mùa hanh hao gió rét tái tê, ngồi yên ấm trong nhà với tích chè xanh ủ trong giỏ mây, là kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Càng bảo quên đi thì càng nhớ, vì đó là mồ hôi, là máu xương của người thân vùi trong gạch vụn và hố bom sâu hoắm.

Tôi nhớ như in sáng 16-4-1972, tiếng máy bay B52 gầm rú, xé toang bầu trời đang bình yên. Đế quốc Mỹ đánh phá Hải Phòng, nhưng nó đã vọt lên Hà Nội để uy hiếp ta rồi! Người lớn đi làm ca, ở nhà chỉ có người già và trẻ nít. Tôi lúc ấy 13 tuổi đã gọi là lớn rồi, dắt bà tôi và các em xuống hầm. Cái hầm tập thể đắp nổi ở cuối dãy nhà D4 chứa vài chục người, ầm ĩ tiếng người quát, tiếng trẻ khóc. Mui hầm bị ẩm mốc lâu ngày xộc lên mũi, ngột ngạt, đất lép nhép dưới chân. Yên ắng trở lại, mọi người từ trong hầm túa ra, tóc vương mạng nhện. Ngay chiều hôm ấy, Mẹ tức tốc cho cả bà nội và hai chị em tôi về quê, không lần chần gì nữa, không kịp tạm biệt các bạn ở lớp, không kịp thom đôi má bầu bĩnh của bé Đức.

Những ngày đi học ở quê, đêm không ngủ, nghe bom rền từng đợt, hai ông cháu tôi tỉnh giấc, chạy ra lũy tre đầu làng, ngóng về chân trời đang đỏ rực; nơi ấy là Hà Nội, là khu tập thể thân thương, có mẹ đang ở đó bám trụ trận địa trên nóc nhà máy. Bao giờ cũng vậy, khi trở về, tôi nghe ông nén tiếng thở dài; đôi vai ông nhô cao sau lần áo gụ đã bạc. Có một buổi cơm trưa, cả hai ông cháu dừng đũa, nghe đài phát thanh tường thuật Mỹ ném bom khu Bệnh viện Bạch Mai, khu Mai Hương, Dệt 8-3, Mai Động, Tân Mai. Cả buổi tôi quanh quẩn vào, ra, không tưới vườn rau, không chăm đàn gà mới mọc đuôi tôm, chả làm được gì ra hồn, Chờ ông đi cày về, tôi xin ông: “Sáng mai ông cho cháu ra khu tập thể, chiều về ngay”. “Bom đạn thế này, cháu đi sao được?”. “Ông cứ cho cháu đi, xem mẹ cháu có làm sao không…?”. Ông mềm lòng, sáng mai, dậy sớm đun chảo cám, luộc khoai cho tôi, và vẫn không quên sắm quà quê cho mẹ tôi. Lần đầu tiên, tôi đạp chiếc xe đạp Thống Nhất mà cha tôi khi đi B để lại, ra khỏi lũy tre làng, lên đê Văn Giang, qua phà Khuyến Lương, xuống đường Lĩnh Nam, về khu tập thể. Chuyến đi để lại ấn tượng sâu sắc suốt đời không quên, bởi tôi đã thấy gương mặt của chiến tranh ngay trên vùng quê thanh bình. Những quả bóng thám không khổng lồ cách mặt đất khoảng 15-20 mét, lơ lửng ở cánh đồng Văn Đức. Phà của các chú công binh thay đò ngang ở bến Khuyến Lương, trông như một cái cầu nổi kỳ lạ, bập bềnh trên mặt sông Hồng đỏ rực, tôi chưa từng thấy bao giờ. Những chiếc xe tải ngụy trang lừ lừ nhích từng ly, từng ly, khiến cầu phao càng dập dềnh, sóng đánh ì oạp. Trên bờ sông, xe tải xếp dọc bến phà, chùm vải xanh ngụy trang, trông thật kỳ vĩ trong đôi mắt cô bé 13 tuổi là tôi.

Sau hơn hai tiếng mướt mải đạp xe 25 kilomet, tôi đã về tới khu tập thể, trống ngực đập thình thịch, ý nghĩ chạy trong đầu đầy lo sợ… Suốt cả dãy nhà A đến dãy nhà D, tất cả vắng vẻ đến kinh hoàng.

Về đến nhà mình, tôi như muốn khuỵu xuống. May quá, cửa không khóa, mẹ có nhà!!! Mẹ chạy ra cửa thảng thốt: “Ai cho con ra?”. Tôi khóc òa. Mẹ ôm tôi vào lòng, diu dàng: “Nó đánh trúng nhà A5, hố bom sâu hoắm. Con không được ra đấy xem. Mẹ phải làm nhiều việc lắm! Con ăn cơm rồi chiều về sớm cho an toàn, còn trông em thay mẹ”. Tôi nhìn quanh phòng 16 mét vuông, gia đình tôi và bác Sách ở chung, chỉ còn hai chiếc giường đôi và hai chiếc tủ nhỏ là vẫn kê như cũ. Nhà trống tuềnh trống toàng. Mẹ bảo, mẹ ăn chung với bác Sách cho tiện đi trực chiến. Bữa cơm thời đạn bom, hai mẹ con ăn cơm độn mì sợi, thức ăn có trứng chưng cà chua là sang rồi. Một giờ chiều, chuẩn bị vào ca, mẹ buộc sau pooc-ba-ga xe vài cân mì sợi, ít đường kính, lọ mỡ lợn để tôi đèo về quê… Tôi rơm rớm nước mắt chào mẹ. Sắp lên xe rồi, quay lại, vẫn thấy dáng mẹ trong chiếc áo bà ba mầu tím Huế, cổ quả tim. Sau này nghĩ lại, thấy hôm ấy may thật, không bị máy bay Mỹ oanh tạc. Ông đón tôi, mắng yêu: Bố cháu nhờ ông chăm cháu đấy, ông cho đi một lần này thôi, nghe không!

Từ hôm đó, tôi như lớn bổng lên, để mẹ yên tâm trực chiến trên nóc nhà máy. Nghe Đài phát thanh từ cái loa tổ ong chạy bằng pin Văn Điển, tôi lẩm nhẩm học thuộc bài hát của nhạc sĩ Phạm Tuyên “Hà Nội những đêm không ngủ”. Nhớ mẹ thì hát lên cho vơi nỗi nhớ: “Ơi các mẹ các em đang giờ đây tạm xa Hà Nội/Trông thấy chăng, sáng đỏ rực hào quang, trên thành phố của ta”.

Mùa xuân 1973, Hiệp định Pari được ký kết. Chúng tôi như bầy chim, ríu rít bay về khu tập thể của mình. Nhà A5 vẫn trơ hoác sau khi bị bom Mỹ dội, giơ cả cốt sắt. Nhà ăn tập thể bị tróc mái, trông thật tang thương. Nhưng cuộc sống vẫn đâm chồi biếc. Buổi chiếu bóng lưu động đầu tiên ở sân nhà A6 rộn rã tiếng cười. Mẹ cho hai chị em đi chơi Bờ Hồ, ăn kem ở hiệu Bốn Mùa. Hoa lay ơn, hoa cúc, thược dược tổ ong, sáng bừng trên cửa hàng bán hoa nơi góc phố Hàng Khay - Đinh Tiên Hoàng. Nghệ sĩ Kim Cúc trên đài phát thanh đang đọc bài thơ “Việt Nam Máu và hoa”, gieo vào lòng chúng tôi tình yêu và tự hào về Dân tộc Anh hùng: “Khao khát trăm năm mãi đợi chờ/Hôm nay vui đến ngỡ trong mơ/Một trời êm ả xanh không tưởng/Mặt đất bình yên giấc trẻ thơ/ Đây cuộc hồi sinh, buổi hóa thân/Mùa đông thế kỷ chuyển sang xuân/Ôi Việt Nam! Từ trong biển máu?/Người vươn lên như một thiên thần”.

45 năm trôi, như giọt thời gian trong lịch sử. Nhà A5 đã được xây lại, nay cũ kỹ rêu phong… và những đứa trẻ năm ấy giờ đã trên dưới 50 tuổi. Các em tìm ảnh ngôi nhà bị ném bom mùa đông năm ấy trên báo ảnh, trên mạng trong những cuộc thi tìm hiểu lịch sử và tự hào: ngày ấy, ông em, bà em là tự vệ sao vuông!