Tôi vẫn hay nhớ hình ảnh nhà thơ Y Phương nước mắt giàn giụa nghe họa sĩ Phạm Long Quận đọc bài thơ gửi cho con trai một lần vào chơi với Nhóm nhân sĩ Hà Đông. Ông ngồi bần thần một lúc, hẳn là buồn thương quá và hiểu rằng có muốn làm gì giúp cũng không nổi. Không phải là sáng tạo, bài thơ gần như “thật tuyệt đối” khi họa sĩ kể lại trạng thái nhớ con cuồng điên mà không thể nào gặp, mà bế ẵm, hôn hít, mà dắt đi chơi... trong suốt thời gian dài. Đó là đứa con với một người phụ nữ Mỹ trong những năm anh học tập ở Cuba.
Y Phương đi đâu chơi, gặp gỡ ai, thường cũng dễ gần, thân tình và thể hiện niềm thân mật đó rất tự nhiên. Tôi được “ăn quà” của ông từ khi chưa quen biết và đã cảm thấy mình học được một liên tưởng hay trong thơ. Đó là một tối mưa se lạnh khoảng 20 năm trước, ba chú sinh viên Văn khoa trường Nhân văn chúng tôi đến chơi nhà thầy giáo Văn sư phạm Chu Văn Sơn chơi. Thầy lấy gói chè lam thơm dẻo mời ăn và nói là quà của nhà thơ Y Phương gửi từ Cao Bằng. Bài thơ “Mùa thu nhớ bạn” của Y Phương trong tập thơ giấy đen cũ mỏng được thầy mở ra đọc khiến tôi thấy mình “mở mắt”: “Bạn ơi nhìn kìa/Hiu hiu gió rồi/Tôi lại nhớ một người//Ngày ấy tóc rất dài/Trời ngắt xanh/Đường ngát thơm/Người bỗng dưng quanh/Bỗng dưng quành/Bỗng dưng co mình trên núi vắng//Người bước trước/Tôi bước sau/Giữ khoảng cách xa nhau đều đặn//Ngày ấy/Mặt đường in rời rạc/Những dấu chân bé xinh/Đi theo những dấu chân bé xinh/Ra đến cửa rừng thì nắng//Bây giờ/Người đi qua/Tôi đi lại/Mỗi người một ngày buồn/Đêm nói mơ một mình//Có một lần/Mẹ tôi nghe được/Thèm một ngôi nhà ướt/Đêm đêm mở cửa xanh//Bạn ơi/Nhìn kìa/Hiu hiu gió rồi/Hình như có một người/Xa xa/Cưỡi lá vàng bay lại”. Nhất là câu “Thèm một ngôi nhà ướt/Đêm đêm mở cửa xanh”, thì nó lạ quá, ảo ảo, mơ hồ, cảm thấy như trước mặt mà không phải.
Tôi nhớ cảm nhận của thầy Sơn hồi đó, đại ý rằng Y Phương là người trong số không nhiều nhà thơ người dân tộc thiểu số, hoặc sống ở miền núi, làm thơ mà không nghiêng về sự thô phác, thô tháp, mộc mạc hay “cố” làm bật lên nét vụng về, ngây thơ. Mà sáng tác của ông gợi ra cả một sự tinh khéo. Nhớ điều đó, để sau này nghiệm ngẫm nhiều hơn trong thơ, tản văn, tùy bút Y Phương, và đời sống của ông, tôi thấy ngoài tâm hồn, tố chất của con người văn hóa ấy, thì ý thức tích lũy, bồi đắp là không thể thiếu. Thí dụ rất tiêu biểu là khi về sống ở Hà Nội, tuổi đã cao nhưng nhà thơ vẫn miệt mài đi học chữ Hán, liên tục quanh ông là chữ, là bút mực, là tập luyện không ngừng từ viết để nhớ đến viết cho đẹp. Văn hóa truyền thống dân tộc Tày của ông được lưu giữ trong nhiều văn bản chữ Hán lâu năm. Ông học chữ để đọc, hiểu hơn, thấm hơn nữa di sản ông cha mình. Dù chính ông đã sinh ra, lớn lên trong một gia đình có truyền thống sinh hoạt nghi lễ văn hóa Tày sâu đậm. Những mùa xuân, những dịp có hoạt động văn hóa, nhiều đồng nghiệp văn chương đã quen với hình ảnh nhà thơ Y Phương khăn xếp áo the, tóc thưa dần và râu lốm đốm bạc, cười hiền hậu bên các đồng môn nhiều lứa tuổi; nhất là luôn khiêm cung, lễ độ bên cạnh các thầy bằng tuổi con cháu mình. Trong đó có TS Phạm Văn Ánh công tác ở Viện Văn học, mà nhà thơ trước sau vẫn trân trọng: Thầy Ánh! Thầy Ánh!
Là bởi ông luôn mến, quý, kính nhiều người khác. Ngoài những người “chữ đầy bụng” như họa sĩ Quận, thầy Sơn, thầy Ánh…, thì rất đáng yêu là với lứa trẻ học hỏi mình, và còn được nhờ những giúp đỡ của mình, ông trước sau thật ân cần. Cho nên các “học trò” ông, khi “chúng” yêu kính gọi ông bằng thầy, không có nghĩa chỉ ở những cuộc bồi dưỡng nghiệp vụ, nói chuyện nghề, trao đổi kinh nghiệm sáng tác, mà còn là ý nghĩa khác của những thịnh tình. Bạn viết, thầy giáo người Mường Phạm Tiến Triều ở Thanh Hóa có gửi nhờ tôi mang sáng tác và đơn từ đến xin ông ký giới thiệu, ông cười xòa: Thằng học trò của chú ý mà! Cũng như Triều, Bùi Việt Phương ở Hòa Bình, thấm truyền được dòng chảy văn hóa vùng miền, sắc màu dân tộc vào sáng tác của mình, ông luôn động viên, ủng hộ.
Một người khi thì khiêm nhường, khi lại thân quý ở nhiều kỳ cuộc, hội ngộ, trao đổi ấy, để học, để nghe, hiểu, mến người khác, thực ra là đầy kiêu hãnh. Điều đó dễ nhận ra khi ông dùng chữ và những liên tưởng độc đáo kể thật tự tin, tự nhiên về khí chất con người, cảnh quan sông núi, văn hóa sống, tập quán, truyền thống dân tộc Tày, quê hương Trùng Khánh, Cao Bằng của mình. Người đã dặn khi viết trong bài “Nói với con”: “Con ơi tuy thô sơ da thịt/Lên đường/Không bao giờ nhỏ bé được/Nghe con”, đầy vững vàng, tin tưởng, thì cũng chính là người biết nghiêng mình để đón nhận những tốt đẹp khác, cả những nỗi niềm, buồn thương bên ngoài mình.
Cả lớn lao và gần gũi đều ở trong cách sống đẹp như thế của nhà thơ Y Phương. Ông đã sống trong tình thương quý của mình dành cho mọi người và của những người chung quanh dành cho.
Nhà thơ Y Phương (Hứa Vĩnh Sước) sinh năm 1948, vừa qua đời tại Hà Nội. Ông là tác giả của nhiều tập thơ, tản văn có giá trị. Ông đã nhận Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007; Giải A Cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ quân đội; Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ “Tiếng hát tháng Giêng”; Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc - Hội Nhà văn Việt Nam (1992) cho tập thơ “Lời chúc”; Giải B Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và Giải B của Bộ Quốc phòng cho trường ca “Chín tháng” (2001).