Phóng viên (PV): Cuốn sách “Một Điểm tinh anh - Thơ văn Hồng Hà nữ sĩ - Bản dịch chú và phiên âm đầy đủ nhất các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm” (NXB Phụ nữ, 2018) là công trình mà bà đã dồn tâm huyết hơn 20 năm. Những kỷ niệm nào khó quên nhất trong suốt quãng thời gian thực hiện công trình này?
PGS, TS Trần Thị Băng Thanh (TTBT): Hình như tôi không có kỷ niệm nào sâu sắc, nhưng quả là có những băn khoăn, mà có thể là do tính bảo thủ của tôi. Tôi biết là xu hướng coi bản dịch “Chinh phụ ngâm” hiện hành được hình thành trên cơ sở của Phan Huy Ích như đã được trong giới nghiên cứu chấp nhận. Ai có ý kiến khác thì hình như chỉ là vì “phụ nữ tính” hoặc “không nỡ”, hoặc “chiếu cố” vì nền văn học của chúng ta rất ít nữ tác gia. Về mặt logic thì tôi cũng có phần bị thuyết phục.
Tuy vậy, tôi không yên tâm về chứng cứ khoa học. Tôi nghĩ rằng những chứng minh, luận bàn của chúng ta ngày nay, dù sao cũng là ý kiến chúng ta, là sự suy luận, vậy thì phải cố gắng tìm chứng cứ ngay chính trên tác phẩm, gọi là “nội chứng”, dù là nội chứng cũng có thể đưa từ ngoài vào. Như vậy, trên tất cả các bản dịch “Chinh phụ ngâm”, chỉ có bản Long Hòa in tên Đoàn Thị Điểm. Bản ấy cũng khác với bản hiện hành và bản Phan Huy Chiêm…
PV: Qua những nghiên cứu của mình, bà cảm nhận thế nào về nét độc đáo trong con người bà Đoàn Thị Điểm?
TTBT: Bà Điểm chắc không có ý định tranh đấu như Hồ Xuân Hương. Bà là người của gia đình, có một tấm lòng vị tha rất lớn. Dường như cả cuộc đời bà chưa toan tính cho mình điều gì. Nhưng bà là một người tài hoa, một người có tư tưởng, biết rất rõ giá trị và năng lực của mình. Khó có người phụ nữ nào thời bà tự tin và ý thức rõ về mình như bà. Đoàn Thị Điểm không “hoạt động nữ quyền” nhưng bà bằng phong cách sống, bằng tài năng, trí tuệ, thực tế bà là người tiêu biểu cho sự khẳng định nữ quyền thời trung đại.
PV: Trong quá trình dịch văn học được viết bằng chữ Nho, và phiên âm văn học viết bằng chữ Nôm, bà thấy vấn đề gì (về ngôn từ, ngữ nghĩa, văn phong...) cần phải trăn trở, nâng lên đặt xuống nhiều hơn cả?
TTBT: Đối với văn học cổ của nước nhà, cũng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, vấn đề hiểu đúng tác phẩm là khó nhất. Chữ Nôm thì không phải dịch, chỉ phiên âm nhưng vấp phải từ cổ, không biết sẽ rất dễ đọc sai. Còn dịch thì chuyện văn chương cũng cần và khó. Tóm lại là dịch thế nào cho người ngày nay hiểu người xưa, cảm thông được, thấy bài văn ấy, áng thơ ấy hay đến mức có thể “vui buồn cùng người xưa”, nhưng lại không biến người xưa thành người hiện đại, đó là điều khó khăn phải cân nhắc, trăn trở nhiều.
PV: Điều bà thấy tâm đắc nhất trong sự nghiệp nghiên cứu khoa học của mình là gì?
TTBT: Trong nghiên cứu khoa học, khó nhất là phát hiện; nếu không làm được việc đó thì nhiều khi chỉ “nói theo”, mà nói theo lại cũng rất khó. Tôi may mắn là chịu khó lần mò nên cũng có những phát hiện, không gây ra xáo trộn gì nhưng cũng có những đính chính, tìm được những cái mới, do đó có thể phản biện, tìm ra những tác gia bị lãng quên. Trong những năm đi làm, bị cuốn theo nhiệm vụ của Ban, của Viện, nhưng tôi cũng tìm được một “mảnh vườn riêng”, khi về hưu vẫn tiếp tục chăm bón. Đó là một niềm vui.
PV: Xin cảm ơn bà!