Mở đầu phần này là một văn bản rất có giá trị nghiên cứu về kịch thơ Việt Nam, đúng như đầu đề mà Hoài Việt đã đặt cho nó: “Sự hình thành và phát triển của kịch thơ Việt Nam”.
Với những lập luận sắc sảo, ông cho rằng kịch thơ Việt Nam hiện hữu cuối thập kỷ 40 đầu 50 của thế kỷ 20. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khiến kịch thơ “bẵng đi ngót 10 năm” cho đến ngày lập lại hòa bình trên miền bắc, kịch thơ mới “sống dậy”. Hoài Việt khẳng định: kịch thơ có nguồn gốc từ một loại hình kịch hát truyền thống đã xuất hiện từ lâu đời, đó là chèo. Và cùng một cách cấu trúc vở diễn chèo: “có tích mới dịch nên trò”. Các nhà viết kịch thơ Việt Nam, do học trường Pháp, rành tiếng Pháp, nên chịu ảnh hưởng của kịch thơ Pháp “là không tránh được”, trong “tích tuồng, bố cục và mảng miếng kịch”. Và, Hoài Việt rút ra kết luận tinh tế: “nếu đem lên sân khấu thì kịch thơ Pháp chỉ có thể “nói thơ” (decslamer) chứ không thể “ngâm” như kịch thơ của ta”. Hoài Việt đã nhận định xác đáng: kịch thơ Việt đã có trên chục vở diễn thành công và đã có khán giả riêng yêu kịch thơ, cho dù “nó chưa được phổ biến rộng rãi”.
2/ Hoài Việt tinh tế khi nhận định kịch thơ cho phép sử dụng các loại thể thơ: tứ tuyệt, ngũ ngôn, lục bát, thất ngôn, song thất, thơ tự do… Hoài Việt còn có nhận xét sáng giá về sức nặng tư tưởng của kịch thơ, khi cho rằng, có những vở kịch thơ đã mang “tầm tư tưởng”, bởi “những suy nghĩ có chiều sâu của người viết qua vấn đề được đặt ra trong tác phẩm”.
Về người diễn kịch thơ, nhận định của ông cũng thật sâu sắc, khi cho rằng, diễn kịch thơ, nếu trước kia nặng về “ngâm” thì thật không phải. Tiết tấu cuộc sống hôm nay thật gấp gáp, khi diễn kịch thơ, “nên coi trọng nói thơ và chọn chỗ thật “đắt” (thường là trong độc thoại hay xung đột căng thẳng) thì hãy ngâm y như kiểu “xuống xề” trong cải lương vậy.”
Trước sau, Hoài Việt vẫn muốn có một chỗ đứng trang trọng cho kịch thơ trong nền kịch nghệ hiện đại Việt Nam và không muốn kịch thơ bị đi vào quên lãng, bởi riêng Hoài Việt vẫn đánh giá kịch thơ là “một loại hình sân khấu dân tộc mới mẻ”. Nhận định này cho thấy, ông là người yêu kịch thơ tận tụy đến điều!
3/ Hoài Việt đã tự mình tiến hành cùng lúc hai việc quan trọng nhất của ông với kịch thơ: nghiên cứu kịch thơ từ góc độ lý thuyết về văn bản học và thực nghiệm bằng cách đã viết 5 kịch thơ: “Sóng Bạch Đằng”, viết chung với Băng Sơn (1968), “Ngô Thì Nhậm” (1970), “Tháng ba sấm động” (1971), “Nguyễn Trãi” (1978) và “Nước cờ Tam Điệp” (1980). Và không phải ngẫu nhiên, kịch bản duy nhất được gia đình và NXB Hội Nhà văn chọn in trong sách này chính là Nguyễn Trãi, kịch thơ lịch sử 3 hồi 10 cảnh, đỉnh cao trong sáng tác kịch thơ của ông.
Chỉ riêng đọc văn bản kịch này, đã thấy tất cả những điều suy ngẫm về kịch thơ từ trải nghiệm riêng về cái sống đến lý thuyết và thực nghiệm kịch thơ, trong một thời gian dài, nung nấu và ủ chín ý tưởng, cộng sinh với sự tự mình rút kinh nghiệm sáng tác kịch thơ, từ các bạn viết, tất cả những điều này đã được Hoài Việt gửi gắm rất rõ ràng, mạch lạc và quyết liệt trong kịch bản “Nguyễn Trãi”.
Chính bởi vậy, kịch bản cũng đã được ông xác định đúng tên loại hình mà Hoài Việt đặc biệt yêu thích: “Nguyễn Trãi” là: kịch thơ lịch sử. Và về tâm thế mà ông muốn giãi bày: Sự ngưỡng vọng cái tâm và cái tài vằng vặc như sao Khuê của Nguyễn Trãi.
Để viết được kịch thơ lịch sử về Nguyễn Trãi và có được cái viết kịch thơ nói chung, Hoài Việt đã tốn hao nhiều nghĩ suy và tâm huyết.
Thế mới thấy: quả là “công trình kể biết mấy mươi”!