1. Sụt lún ở ĐBSCL diễn ra trên diện rộng. Mức sụt lún phổ biến tại ĐBSCL khoảng 0,5-3 cm mỗi năm, trong đó nhiều khu vực ven biển hơn 2,5 cm mỗi năm. Tình trạng này không chỉ làm mất đất mà còn gây sức ép lên hệ thống đường giao thông, đê biển, khu dân cư, vùng sản xuất và các công trình ven biển.
Giai đoạn 2026-2030, Chính phủ dự kiến đầu tư 32.593 tỷ đồng cho tám dự án trọng điểm phòng, chống sạt lở, ngập úng, hạn hán và xâm nhập mặn tại ĐBSCL. Các dự án tập trung kiểm soát nguồn nước, nâng cấp thủy lợi và đê biển tại Cà Mau, TP Cần Thơ và Vĩnh Long.
Tại Cần Thơ, dự án kiểm soát nguồn nước bờ nam sông Hậu sẽ phục vụ khoảng 70.000ha. Tại Vĩnh Long, các dự án kiểm soát nguồn nước hướng tới bảo đảm nguồn nước tưới cho khoảng 24.000ha cây ăn trái và hoa kiểng. Cùng với đó, các địa phương sẽ nâng cấp đê Biển Đông, đê Biển Tây và triển khai Chương trình chống chịu khí hậu và chuyển đổi tổng hợp vùng ĐBSCL.
Tuy nhiên, đầu tư công trình chỉ là một phần của bài toán. Theo TS Trần Hữu Hiệp, chuyên gia kinh tế vùng ĐBSCL, sạt lở và sụt lún có nhiều nguyên nhân, trong đó, gây tác động lớn là sự suy giảm nguồn bùn cát từ thượng nguồn sông Mê Công. Khai thác nước ngầm cũng góp phần làm nền đất sụt lún. Bên cạnh đó, quá trình đô thị hóa, xây dựng công trình và hạ tầng sát sông, cùng việc thu hẹp không gian thoát nước có thể làm gia tăng áp lực lên nền đất và dòng chảy.
2. Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết 218 ngày 7/8/2026 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Trong chương trình hành động, Chính phủ đặt mục tiêu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh và thông minh. Đây là cơ hội để ĐBSCL không chỉ tập trung ứng phó với thiên tai mà từng bước khai thác hiệu quả không gian biển.
Ngành hàng thủy sản có thể chuyển mạnh sang nuôi biển công nghệ cao, chế biến sâu và xây dựng chuỗi giá trị có giá trị gia tăng lớn hơn. Rừng ngập mặn có thể gắn với nuôi thủy sản sinh thái, du lịch và các cơ chế tài chính xanh. Việc kết nối cảng biển với đường bộ, đường thủy và các trung tâm logistics sẽ giúp giảm chi phí vận chuyển, nâng khả năng cạnh tranh của nông sản, thủy sản và hàng hóa xuất khẩu của vùng.
Theo TS Trần Hữu Hiệp, để phát triển kinh tế biển bền vững, ĐBSCL cần thay đổi cách tiếp cận, từ tư duy chỉ tập trung chống sạt lở sang quản trị rủi ro và thích ứng với điều kiện tự nhiên đang thay đổi. Các dự án hạ tầng ven biển cần được tính toán trên cơ sở sức chịu tải của hệ sinh thái và khả năng chống chịu lâu dài, thay vì chỉ giải quyết những điểm phát sinh trước mắt.
Cùng với đó, cần phục hồi rừng ngập mặn, bảo vệ các bãi bồi, vùng đất ngập nước và hành lang sông. Đây không chỉ là giải pháp giảm sạt lở mà còn tạo nền tảng cho các mô hình kinh tế sinh thái, nuôi trồng thủy sản bền vững và du lịch ven biển.
ĐBSCL cũng cần tăng cường quan trắc, cảnh báo sớm sạt lở và sụt lún bằng công nghệ số, viễn thám và các hệ thống dữ liệu dùng chung. Việc có dữ liệu đầy đủ sẽ giúp chính quyền chủ động điều chỉnh quy hoạch, xác định khu vực cần bảo vệ và ưu tiên nguồn lực đầu tư.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ĐBSCL hiện có 743 điểm sạt lở, gồm gần 690 điểm sạt lở bờ sông với tổng chiều dài gần 600 km và 53 điểm sạt lở bờ biển dài hơn 200 km.