Thương nhau hạt muối sẻ đôi

Trong lịch sử trường kỳ, cam go, đầy hy sinh mất mát, nhưng vô cùng vẻ vang của công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước của dân tộc, nhân dân hai nước Lào và Việt Nam đã gắn bó, yêu thương nhau, cùng đoàn kết để chiến thắng và cùng bước trên con đường đến lý tưởng chung. Rất nhiều câu chuyện cảm động đã được nhắc lại như những biểu tượng của tình hữu nghị, gắn bó keo sơn “hạt muối cắn đôi, cọng rau sẻ nửa”.
Đồn Biên phòng Ba Nang hỗ trợ con giống tạo sinh kế cho bản A Xóc, huyện Sa Muồi, tỉnh Salavan (Lào).
Đồn Biên phòng Ba Nang hỗ trợ con giống tạo sinh kế cho bản A Xóc, huyện Sa Muồi, tỉnh Salavan (Lào).

Nghĩa tình nơi biên giới

Một ngày giữa tháng 7, chúng tôi theo chân anh Hồ Văn Mắt, dân tộc Vân Kiều ở tại bản Sa Trầm (xã Ba Nang, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị). Anh Mắt sinh năm 1982, là Bí thư Chi bộ thôn Sa Trầm, một bản vùng biên khá khắc nghiệt. Sa Trầm thời tiết lạnh, sương muối kéo dài, mùa nắng cũng như mùa mưa trời đất cứ như “chạm nhau” bởi sương giăng mây phủ “ở đây rất khó khăn, những vùng khác trồng cây gỗ tràm hơn bốn năm là bán được, đây phải bảy, tám năm, có khi hơn. Đó là may cây sống, thời tiết khó cây thường bị chết. Người dân chủ yếu sống bằng nương rẫy và tìm một số lâm sản được phép ở trong rừng mang đi bán như mây tre, ốc, cá…”, anh Mắt chia sẻ thêm, ở bên kia Sa Trầm là A Xóc, một bản biên giới của nước bạn Lào. Bên A Xóc thời tiết cũng tương đồng với Sa Trầm, người dân bên đó cũng còn khó khăn nhiều lắm.

Theo hướng đồi, chúng tôi đi hơn 1km, qua chốt kiểm soát thủ tục hành chính của Trạm Cóc (Đồn Biên phòng Ba Nang) là đến bản A Xóc thuộc huyện Sa Muồi (Salavan - Lào) ông Ăm Hương, Trưởng bản, Bí thư Chi bộ thôn niềm nở: “bản Sa Trầm và bản A Xóc có mối quan hệ họ hàng thân tộc, cũng trong nghèo khổ nên thương nhau, có chi cũng cho nhau, nếu có cái ăn cái mặc thì chỉ cần mang đi hơn một cây số là cho được…”.

Ăm Hương muốn thể hiện tấm lòng của mình đối với những người anh em như chúng tôi nên bảo một vài người dân trong thôn chuẩn bị cơm thết đãi. Một bữa cơm đậm chất miền núi. Ăm Hương bảo, ở nơi đâu cực khổ thì tình cảm nhiều lắm, tình cảm Việt - Lào có từ đời xưa, khi có con người là đã biết yêu thương nhau, đoàn kết nhau chống thú dữ, sau thì chống giặc, ngày nay bảo vệ hòa bình.

Chúng tôi chứng kiến người dân hai bản biên giới Sa Trầm - A Xóc cho nhau từng gói ớt, đùm măng rừng, sẻ chia cho nhau từng tấm áo, mời nhau chén rượu… Mọi thứ được thấu hiểu qua ánh mắt, qua hành động, qua những công việc thường ngày.

Bộ đội - chất keo kết nối

Đồn Biên phòng Ba Nang cách trung tâm huyện Đakrông hơn 30km, địa bàn đồn đóng quân thuộc xã Ba Nang (huyện Đakrông, Quảng Trị) một xã khá biệt lập với hơn 90% dân số là đồng bào dân tộc Vân Kiều. Ông Hồ My, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Ba Nang cho hay, đồng bào dân tộc Vân Kiều ở Ba Nang chủ yếu sống nhờ vào nương rẫy và trồng rừng, chính quyền cơ sở cùng với nhân dân “nhích lên từng bước” để cải thiện đời sống, tiếp tục vượt khó để thoát nghèo. Trong quá trình đó chính quyền và nhân dân được sự giúp đỡ rất lớn từ cán bộ chiến sĩ bộ đội Biên phòng Đồn Biên phòng Ba Nang, từ thôn bản đến xã, các đồng chí ấy đã giúp chúng tôi rất nhiều.

Được xem là “chất keo” kết nối cộng đồng, cán bộ và chiến sĩ biên phòng Đồn Biên phòng Ba Nang vừa thực hiện vai trò giữ vững chủ quyền an ninh biên giới vừa giúp dân phát triển kinh tế-xã hội, khắc phục những khó khăn. Không những đối với dân cư Việt Nam, việc chăm lo đời sống cho người dân vùng biên nước bạn Lào là một trong những nhiệm vụ cần thực hiện và đó là nghĩa cử cao đẹp của anh bộ đội Cụ Hồ. Thượng tá Bùi Văn Hưng, Phó Bí thư Đảng ủy, Đồn trưởng Đồn Biên phòng Ba Nang chia sẻ, đời sống nhân dân thôn bản biên giới còn rất nhiều khó khăn nên chúng tôi vừa hỗ trợ từ thực lực của mình vừa vận động, huy động các nguồn lực xã hội. Với tinh thần “lá lành đùm lá rách”, các đơn vị, tổ chức, cá nhân… hỗ trợ cho thôn bản khá nhiều, phần nào tạo động lực giúp họ khắc phục khó khăn. Nhưng cái lâu dài là sinh kế cho đồng bào, tạo công ăn việc làm cho lao động người dân tộc thiểu số, đó mới là hướng đi đúng đắn, bền vững. Anh Hồ Văn Mắt chia sẻ: những khó khăn từ ngày xưa đến nay, hai bản cùng khắc phục với nhau. So về đời sống thì người dân Sa Trầm phía mình đỡ hơn bản A Xóc nước bạn Lào nên mọi san sẻ thường bên này qua bên ấy.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ba Nang phối hợp Đoàn Thanh niên thôn Sa Trầm cải tạo đường giao thông ở xã biên giới.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Ba Nang phối hợp Đoàn Thanh niên thôn Sa Trầm cải tạo đường giao thông ở xã biên giới.

Kết nghĩa bản với bản, 15 năm nghĩa tình

Người dân bản A Xóc (Lào) và Sa Trầm (Việt Nam) gọi tháng 3 hằng năm là tháng 3 nghĩa tình. Nhân dân hai bản ghi nhớ ngày 31/3/2007 là ngày hai bản ký kết tình hữu nghị anh em, kết nghĩa bản - bản. Lễ ký kết nghĩa giữa hai bản được tổ chức trọng thể, có sự chứng kiến của lãnh đạo huyện Đakrông, huyện Salavan và lực lượng bảo vệ biên giới của hai bên, có 100% hộ gia đình tham gia.

Bí thư Đảng ủy, Thượng tá Lê Hồng Sơn, Chính trị viên Đồn Biên phòng Ba Nang cho hay: Tính đến nay đã được 15 năm kết nghĩa bản - bản. Thời gian qua, nhân dân bản Sa Trầm với bản A Xóc đã tổ chức tốt hoạt động giao lưu, đối ngoại của nhân dân hai bên biên giới góp phần củng cố tình hữu nghị đặc biệt giữa hai nước. Cán bộ, nhân dân hai bản thường xuyên thăm hỏi, tặng quà nhân các sự kiện trọng đại của hai nước, hai địa phương, như: Tổ chức thăm hỏi chúc mừng Tết cổ truyền Việt Nam và Tết cổ truyền Bun Pi Mày (Lào), ngày hội đại đoàn kết toàn dân; ngày Quốc tế Phụ nữ (8/3)... tham gia thi đấu giao hữu bóng đá, bóng chuyền, các lễ hội truyền thống: 14 lần giao lưu văn hóa văn nghệ; 6 lần cùng nhau tổ chức đi tham quan, học tập mô hình phát triển kinh tế và danh lam thắng cảnh của hai nước. Mỗi khi có người ốm, có đám ma, đám cưới... nhân dân hai bản thường xuyên qua lại thăm hỏi, động viên, cùng chia buồn vui, xây dựng tình cảm nồng thắm hai bên biên giới.

Hoạt động kết nghĩa đã thúc đẩy việc phối hợp tổ chức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho cư dân hai bản được 32 đợt/2.620 lượt đồng bào về chủ quyền lãnh thổ, ý thức quốc gia, quốc giới, việc chấp hành các quy định của Hiệp định về quy chế biên giới Việt Nam - Lào; các quy định của pháp luật của mỗi nước về quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, quy định về lấy vợ, lấy chồng hai bên biên giới; tuyên truyền về ý nghĩa của công tác này, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới; mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, truyền thống tốt đẹp giữa nhân dân hai nước Việt Nam - Lào nói chung, nhân dân hai bên biên giới nói riêng. Đồng thời, phổ biến các kiến thức về nông nghiệp, phòng, chống dịch bệnh… cho nhân dân hai bên biên giới được 17 buổi/580 lượt người nghe.

Thượng tá Lê Hồng Sơn cho biết thêm: Lãnh đạo bản Sa Trầm (Việt Nam) và bản A Xóc (Lào) đã phối hợp các lực lượng tổ chức bảy buổi gặp mặt, làm việc trực tiếp với các hộ gia đình liên quan đến một vụ quá cảnh, ba vụ liên quan đến vật nuôi, hai trường hợp kết hôn trái phép hai bên biên giới để giáo dục họ hiểu việc làm đó là trái quy định pháp luật, Hiệp định về quy chế biên giới Việt Nam - Lào và yêu cầu chấm dứt ngay tình trạng nói trên; giúp nhau tìm lại 18 con trâu và nhiều đàn dê, bò bị thất lạc.

Cùng với đó là 19 đợt với 350 lượt nhân dân tham gia cùng lực lượng chuyên trách của mỗi bên tuần tra bảo vệ đường biên, cột mốc. Qua thực hiện các nội dung kết nghĩa, việc chống xuất nhập cảnh, xuất nhập biên, truyền đạo trái phép, quá canh, quá cư; buôn lậu, buôn bán hàng cấm qua biên giới; khai thác lâm thổ sản trái phép; săn bắt thú rừng quý hiếm; không chăn thả gia súc qua bên này hoặc sang bên kia; chứa chấp, che giấu đưa đón, chỉ đường cho bọn buôn lậu, không gây cháy nổ, đốt nương rẫy ở khu vực vành đai biên giới... được nhân dân bản hai bên cam kết và chấp hành, thực hiện tốt. Người dân đã cung cấp nhiều nguồn tin có giá trị liên quan đến tội phạm khai thác, vận chuyển lâm thổ sản, gây rối trật tự công cộng, trộm cắp tài sản công dân…

Thực tế việc tăng cường giao lưu, xây dựng tình hữu nghị hai bên đã cho nhiều tín hiệu vui khi nhân dân bản A Xóc (Lào) được nhân dân bản Sa Trầm (Việt Nam) giúp đỡ, trao đổi kinh nghiệm sản xuất, hỗ trợ các loại giống cây trồng, vật nuôi, hướng dẫn cách phòng trừ dịch bệnh, kinh nghiệm làm ăn, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; tạo điều kiện thông thoáng cho việc lưu thông sản phẩm trở thành hàng hóa trao đổi trên thị trường. Nhiều hộ gia đình dân bản đã có thu nhập khá, góp phần làm cho đời sống nhân dân hai bản giáp biên của hai bên từng bước được cải thiện…

Với những thành quả đó, bà con nhân dân bản Sa Trầm (Việt Nam) và bản A Xóc (Lào) đã góp phần vun đắp truyền thống đoàn kết hữu nghị, gắn bó keo sơn đã từ lâu đời giữa hai nước Việt - Lào.