Tăng cường hợp tác về biển và đại dương

Diễn đàn Biển Việt Nam 2026 với chủ đề “Hợp tác và hội nhập quốc tế trong xây dựng Việt Nam thành quốc gia biển mạnh”, do Học viện Ngoại giao tổ chức ngày 2/10 tại Hà Nội. Đây là sự kiện thu hút đông đảo chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách hàng đầu về biển tham dự đóng góp, cho ý kiến.

Các đại biểu tham gia phiên chuyên đề. Ảnh: VB
Các đại biểu tham gia phiên chuyên đề. Ảnh: VB

Tại phiên chuyên đề về hợp tác khoa học, công nghệ và quản trị biển trong khuôn khổ diễn đàn, ông Sylvain Ouillon từ Viện Nghiên cứu Phát triển Pháp (IRD) tại Việt Nam đã chia sẻ dự án hợp tác nghiên cứu biển giữa IRD và các đối tác Việt Nam gần đây nhất, đó là việc thành lập trạm quan trắc biển thí điểm tại Quy Nhơn. Trạm quan trắc này sẽ tập trung giám sát chất lượng nước và hệ sinh thái ven biển, cải thiện việc ghi nhận tác động của biến đổi khí hậu và hoạt động của con người, đồng thời góp phần vào hệ thống cảnh báo sớm môi trường và quá trình ra quyết định.

Theo ông Ouillon, về lâu dài, trạm quan trắc này có thể được tích hợp vào hệ thống quan trắc biển quốc gia của Việt Nam và kết nối với các mạng lưới quan trắc quốc tế, đây cũng là minh chứng cho mối quan hệ hợp tác và phát triển từ các dự án trước đó giữa hai phía.

Theo Cục trưởng Biển và Hải đảo Việt Nam Nguyễn Quốc Toản, hợp tác quốc tế về biển và đại dương bao gồm nhiều lĩnh vực, song có thể kể đến là quản trị biển và quy hoạch không gian biển, trong đó tranh thủ kinh nghiệm quốc tế về quản trị tổng hợp không gian biển, phân bổ không gian cho các ngành kinh tế, bảo tồn thiên nhiên, năng lượng tái tạo, giao thông hàng hải và các hoạt động quốc phòng, an ninh. Những hoạt động này cũng nâng cao năng lực đánh giá tác động, giải quyết xung đột trong sử dụng không gian biển. Hiện nay, Việt Nam và các đối tác quốc tế triển khai nhiều dự án hợp tác điều tra cơ bản, khoa học, công nghệ biển và dữ liệu đại dương và xây dựng cơ sở dữ liệu biển phục vụ hoạch định chính sách.

Diễn đàn Biển Việt Nam đã tập trung trao đổi, khuyến nghị các định hướng, giải pháp hợp tác nhằm triển khai Nghị quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, chuyển tiềm năng biển thành nguồn lực phát triển thực chất và bền vững. Việt Nam đang đặt mục tiêu hợp tác phát triển các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao (chuyển đổi từ lồng bè truyền thống sang hệ thống lồng nhựa HDPE chịu bão, ứng dụng công nghệ số và nuôi đa dinh dưỡng), công nghệ môi trường biển và các ngành dịch vụ biển có giá trị gia tăng cao…

Những lĩnh vực kinh tế mới này sẽ góp phần thu hút đầu tư và từng bước hình thành năng lực công nghệ, doanh nghiệp và chuỗi giá trị của Việt Nam, đồng thời mang lại sinh kế cho người dân ven biển và hải đảo. Các phiên thảo luận cho thấy dư địa hợp tác còn rất lớn trong hàng hải và logistics, năng lượng tái tạo ngoài khơi, thủy sản bền vững, du lịch biển và các ngành kinh tế đại dương mới…

22-3vung-nuoi-thuy-hai-san-tai-dao-binh-ba-khanh-hoa.jpg
Nuôi biển công nghệ cao là một trong những lĩnh vực Việt Nam đang đặt mục tiêu hợp tác phát triển. Ảnh: ANH QUÂN

Các chuyên gia và nhà nghiên cứu thống nhất rằng, hiện nay những thách thức trên biển ngày càng phức tạp và xuyên biên giới, từ khai thác thủy sản bất hợp pháp, an ninh hàng hải, ô nhiễm đại dương, biến đổi khí hậu… không có quốc gia nào có thể giải quyết các vấn đề bằng hành động đơn phương. Phát biểu ý kiến tại phiên bế mạc diễn đàn, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cường nhấn mạnh hợp tác quốc tế phải được chuyển hóa thành năng lực: “Vốn, công nghệ và tri thức từ bên ngoài chỉ trở thành sức mạnh biển khi giúp hình thành đội ngũ, dữ liệu, quy trình và khả năng tự vận hành ở trong nước. Vì vậy, thước đo của hợp tác không chỉ nằm ở số thỏa thuận đã ký, mà ở chỗ sau khi mỗi chương trình kết thúc, Việt Nam sẽ có thêm được năng lực gì”.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Cường, để chuyển hóa hợp tác và hội nhập quốc tế thành nguồn lực cho phát triển kinh tế biển xanh, hiện đại, có sức cạnh tranh, Việt Nam cần chủ động hơn trong kiến tạo hợp tác và lựa chọn những dự án đem lại nguồn đầu tư, góp phần chuyển giao công nghệ, phát triển nhân lực và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong nước. Bên cạnh đó, dữ liệu và tri thức biển đang trở thành nguồn lực chiến lược đối với quản trị, dự báo và hoạch định chính sách. Điều này đặt ra bài toán khi hợp tác khoa học, công nghệ không chỉ dừng ở trao đổi học thuật, mà phải tạo ra công nghệ, sản phẩm, mô hình quản trị và năng lực mới cho Việt Nam. Ngoài ra, đó còn là yêu cầu hợp tác quốc tế giúp người dân tiếp cận công nghệ xanh, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tạo sinh kế bền vững, đồng thời phát huy văn hóa biển như một nguồn lực mềm kết nối Việt Nam với thế giới.