“Cứu cánh” từ ERPA
ERPA là thỏa thuận được ký kết giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (nay là Bộ Nông nghiệp và Môi trường) và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế (IBRD, thuộc Ngân hàng Thế giới), tổ chức đóng vai trò bên ủy thác của Quỹ Đối tác carbon lâm nghiệp (FCPF) vào tháng 10/2020. Theo đó, Việt Nam cam kết chuyển nhượng cho FCPF 10,3 triệu tấn CO₂ giảm phát thải từ rừng tại 6 tỉnh Bắc Trung Bộ với giá trị hợp đồng 51,5 triệu USD (tương đương khoảng 1.250 tỷ đồng).
Trong các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nghệ An có diện tích đất rừng lớn nhất, gần 1 triệu ha, trong đó hơn 790 nghìn ha rừng tự nhiên. Đây là tiềm năng lớn để tạo ra tín chỉ carbon thông qua việc bảo vệ và nâng cao chất lượng rừng tự nhiên.
Sau khi Nghị định số 107/2022/NĐ-CP của Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ có hiệu lực, Nghệ An chủ động vào cuộc nhằm cụ thể hóa và tổ chức thực hiện ERPA. Trong bối cảnh nguồn vốn ngân sách dành cho bảo vệ rừng hạn hẹp, dòng vốn ERPA và dịch vụ môi trường rừng giúp tỉnh giảm đáng kể ngân sách cho công tác duy trì bảo vệ và phát triển rừng.
Ông Nguyễn Danh Hùng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Nghệ An cho biết, đến hiện tại, tổng nguồn thu từ ERPA trên địa bàn tỉnh Nghệ An đạt 356,43 tỷ đồng, trong đó 355,58 tỷ đồng được điều phối từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Trung ương, tạo nguồn lực tài chính quan trọng để hỗ trợ, khuyến khích cộng đồng tham gia bảo vệ, phát triển rừng tự nhiên.
Trong năm 2025, Nghệ An đã giải ngân hơn 144 tỷ đồng, tương đương 81% kế hoạch năm, trong đó 138 tỷ đồng được chi trả cho các đối tượng hưởng lợi. Công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện nghiêm ngặt để bảo đảm chi trả công khai, minh bạch. Hệ thống phần mềm quản lý tài chính ERPA được đưa vào vận hành, góp phần hiện đại hóa công tác lâm nghiệp.
Không chỉ góp phần giữ màu xanh rừng, ERPA còn mang lại lợi ích thiết thực cho hàng chục nghìn hộ dân vùng cao. Năm 2024, toàn tỉnh có 457 cộng đồng tham gia quản lý rừng, được hỗ trợ gần 64 tỷ đồng cho sinh kế và khoán bảo vệ rừng. Mỗi cộng đồng được hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/năm. Nguồn kinh phí này đã giúp bà con triển khai nhiều công trình thiết thực, vừa cải thiện điều kiện sống, vừa nâng cao trách nhiệm cộng đồng với công tác bảo vệ rừng.
Sớm xây dựng giai đoạn 2 của dự án
Tuy nhiên, bên cạnh kết quả tích cực, việc triển khai ERPA ở Nghệ An cũng còn những bất cập. Công tác lập danh sách và chi trả cho các cộng đồng chủ rừng còn khó khăn do cơ sở dữ liệu chưa đồng bộ. Mức hỗ trợ sinh kế 50 triệu đồng/cộng đồng/năm chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế ở vùng sâu, vùng xa. Các biện pháp lâm sinh còn hạn chế, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện ngắn.
Theo ông Nguyễn Văn Đệ, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nghệ An, từ thực tiễn triển khai, tỉnh kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho phép kéo dài thời gian thí điểm, sớm xây dựng giai đoạn 2, đồng thời hướng dẫn cụ thể về sử dụng nguồn kinh phí tồn dư sau năm 2025. Bên cạnh đó, cần điều chỉnh, mở rộng đối tượng và nội dung chi, nâng mức hỗ trợ sinh kế cho phù hợp hơn với thực tế. Đặc biệt, cần cho phép thử nghiệm cơ chế liên kết tài chính ERPA với các mô hình kinh tế lâm nghiệp, OCOP và du lịch sinh thái.
“Trước đây dân bản giữ rừng vì trách nhiệm, còn giờ giữ rừng có thêm tiền làm đường, làm ống dẫn nước về tận nhà. Chúng tôi bảo nhau không ai được phá rừng, vì rừng là “sổ tiết kiệm” của cả bản rồi!”, ông La Đức Toàn, bản Châu Sơn, xã Con Cuông vui mừng chia sẻ.