Phân vai đúng, đầu tư đủ để đổi mới y tế cơ sở

Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt y tế cơ sở vào vị trí nền tảng của công cuộc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Để hiện thực hóa mục tiêu này, cần vượt qua tư duy chỉ tăng đầu tư cho từng cơ sở, tiến tới tổ chức lại mạng lưới y tế theo chức năng, nhu cầu và hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

Khám bệnh tại tuyến y tế cơ sở. Ảnh: HẢI NAM
Khám bệnh tại tuyến y tế cơ sở. Ảnh: HẢI NAM

Thí điểm có đối chứng

Ai cũng mong y tế cơ sở vững mạnh, giải quyết được phần lớn bệnh thông thường, để người bệnh không phải “bỏ tuyến, vượt cấp” và bệnh viện Trung ương bớt quá tải. Mong muốn ấy đã được cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương nhằm nâng cao năng lực của y tế cơ sở, chẳng hạn đưa kỹ thuật khó, chuyên gia, bác sĩ về cơ sở, phát triển bác sĩ gia đình, huy động y tế tư nhân... Nghị quyết số 72-NQ/TW, ban hành ngày 9/9/2025, nâng tầm chủ trương đó bằng mục tiêu rõ ràng: 100% trạm y tế xã được đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và nhân lực; đến năm 2027, mỗi trạm có ít nhất 4-5 bác sĩ; tỷ lệ khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế tại trạm đạt hơn 20%.

Nhưng đầu tư đến mức nào, theo mô hình nào thì người dân thật sự tin tưởng và chọn khám, chữa bệnh ở tuyến cơ sở? Chỉ tăng nhân lực, thêm thiết bị chưa chắc đã thay đổi hành vi của người bệnh. Vấn đề không chỉ nằm ở quy mô đầu tư, mà ở cách xác định nhu cầu, tổ chức chức năng và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Mỗi khi kết quả chưa như kỳ vọng, lý do thường được viện dẫn là đầu tư chưa thỏa đáng, và điều đó có cơ sở khi nhân lực tuyến cơ sở thiếu cả lượng lẫn chất, đãi ngộ chưa tương xứng, thuốc và thiết bị còn hạn chế. Nhưng “thỏa đáng” là bao nhiêu bác sĩ, loại thuốc nào, thiết bị gì, cơ chế tài chính ra sao? Không có thước đo cụ thể, khó biết ta đang đầu tư thiếu những gì. Thực tế cũng chưa có trung tâm y tế cơ sở nào đủ tiêu biểu để làm chuẩn tham chiếu.

Chúng tôi đề xuất một giải pháp làm rõ vấn đề này, đó là thí điểm có đối chứng. Cần chọn một địa phương quy mô tương đương một huyện trước đây, nếu đã có trung tâm y tế đạt chuẩn lý tưởng thì lấy làm mốc, nếu chưa thì đầu tư đồng bộ để tạo ra mốc đó, từ nhân lực, thuốc, thiết bị, danh mục kỹ thuật đến cơ chế tài chính. Đơn vị được chủ động tổ chức chuyên môn, hoạt động ổn định ít nhất hai năm, rồi đánh giá bằng các chỉ số gồm số ca cấp cứu được xử trí; số người đến khám, điều trị; tỷ lệ chuyển tuyến, vượt tuyến; mức hài lòng của người bệnh; hiệu quả quản lý bệnh mạn tính như tăng huyết áp, đái tháo đường; chi phí của người bệnh và quỹ bảo hiểm y tế. Kết quả được so với một địa phương tương đồng chưa được đầu tư thêm. Chi phí thí điểm khả thi, dễ kiểm soát, có thể nhân rộng nếu hoạt động hiệu quả.

Kết quả nào cũng có giá trị cho hoạch định chính sách. Nếu người dân tin dùng dịch vụ, bệnh mạn tính được quản lý tốt, cấp cứu kịp thời, số ca chuyển tuyến không cần thiết giảm, mô hình đã được chứng minh. Nhân rộng khi đó có căn cứ, có “công thức” về mức đầu tư, và áp lực lên tuyến Trung ương được giảm thực chất.

Ngược lại, nếu đầu tư đồng bộ mà người dân vẫn tìm lên tuyến trên, cần xem xét nguyên nhân sâu hơn. Đó là niềm tin, chất lượng chuyên môn, khả năng tiếp cận hay cơ chế phối hợp.

Phân vai rõ ràng, liên thông thực chất

Phát triển y tế cơ sở, vì vậy không phải biến mọi cơ sở thành bệnh viện thu nhỏ của tuyến trên, mà là phân vai rõ giữa các tuyến. Phân vai không có nghĩa là hạn chế người bệnh tiếp cận kỹ thuật cao, mà là chuyển lên nhanh khi cần và đưa về cơ sở để theo dõi sau điều trị. Muốn vậy, các cơ sở phải được kết nối thành mạng lưới, người bệnh được quản lý xuyên suốt từ cộng đồng đến điều trị chuyên sâu và phục hồi. Khi đó, cần chuyển tuyến hai chiều thuận lợi, hồ sơ sức khỏe điện tử dùng chung, khám, chữa bệnh, hội chẩn từ xa, trách nhiệm chuyên môn từng giai đoạn được xác định rõ.

Cơ chế tài chính cần khuyến khích chăm sóc liên tục, dự phòng, quản lý bệnh hiệu quả, thay vì chỉ tính số lượt khám hay số kỹ thuật. Cần chính sách đủ sức giữ chân nhân lực tuyến cơ sở, nhất là ở vùng khó khăn. Đầu tư phải căn cứ vào điều kiện thực tế, không áp một công thức cứng nhắc cho mọi địa bàn.

Cải cách y tế cần lộ trình và sự đồng thuận, nhưng không có nghĩa là trì hoãn khắc phục những bất cập đã rõ. Việc thí điểm bài bản, đo bằng số liệu, rồi mới nhân rộng hoặc điều chỉnh là cách làm khoa học, có trách nhiệm, đúng tinh thần “đổi mới và hành động” của Nghị quyết 72-NQ/TW. Khi y tế cơ sở được đầu tư đúng và các tuyến được phân vai hợp lý, người dân được chăm sóc tốt ngay gần nhà, trong khi tuyến trên vẫn phát huy đúng thế mạnh của mình.

Tuyến cơ sở tập trung phòng bệnh, chăm sóc ban đầu, bác sĩ gia đình, sàng lọc bệnh mạn tính, chăm sóc người cao tuổi, phục hồi chức năng, xử trí bệnh thông thường và cấp cứu ban đầu. Tuyến trên tập trung điều trị chuyên sâu, bệnh nặng, phức tạp, đồng thời hỗ trợ đào tạo, hội chẩn, chuyển giao kỹ thuật cho tuyến dưới.