Yêu cầu đặt ra đối với chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

Xây dựng Chính phủ số, Kinh tế số và Xã hội số không chỉ là ứng dụng công nghệ số vào mọi mặt đời sống, đó còn là quá trình tái cấu trúc toàn diện, đòi hỏi đổi mới căn bản về tư duy lãnh đạo, thể chế, phương thức tổ chức và mô hình vận hành.

Hội thảo "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số" do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức.
Hội thảo "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số" do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức.

Chuyển đổi số đã được Đảng và Nhà nước ta xác định là một trong ba đột phá chiến lược quan trọng hàng đầu, là yếu tố quyết định để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Đối với Việt Nam, đây vừa là cơ hội vàng để hiện thực hóa khát vọng phát triển, vừa là thách thức lớn nếu chúng ta không kịp thời nắm bắt và định hướng đúng. Chuyển đổi số không còn là lựa chọn mà đã trở thành mệnh lệnh để tồn tại và phát triển trong thế kỷ XXI.

Đây cũng là nội dung quan trọng được đặt ra tại diễn đàn khoa học năm 2025 với chủ đề "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số" do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức.

Tại Diễn đàn, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho rằng: Chuyển đổi số không phải là mục đích tự thân, mà là công cụ, là phương tiện để hiện thực hóa khát vọng phát triển của dân tộc. Để trở thành quốc gia phát triển có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, chúng ta cần giải quyết một câu hỏi cốt lõi: Làm thế nào để chuyển đổi số trở thành động lực thực sự cho việc nâng cao chất lượng quản lý phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm tăng trưởng bao trùm, bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân?

Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cũng nhấn mạnh: Với tầm nhìn chiến lược sâu sắc, Đảng và Nhà nước ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của chuyển đổi số. Nghị quyết 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đặt nền móng cho quá trình chuyển đổi số quốc gia.

Tiếp theo đó, Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 và Chương trình Chuyển đổi số quốc gia theo Quyết định số 749/QĐ-TTg đã cụ thể hóa tầm nhìn thành kế hoạch hành động.

Đặc biệt, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định một cách rõ ràng: Chuyển đổi số quốc gia là một trong ba đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia. Nghị quyết cũng xác định rõ: phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là "cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực".

kts3.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát biểu tại Hội thảo "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số".

Thành tựu, thách thức của chuyển đổi số ở Việt Nam

Tổng hợp từ 28 tham luận của các chuyên gia, nhà khoa học tại Diễn đàn "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số" cho thấy những kết quả đáng khích lệ trong quá trình chuyển đổi số vừa qua.

Về Chính phủ số: Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc, xếp hạng thứ 71/193 quốc gia về Chỉ số phát triển Chính phủ điện tử (EGDI) của Liên hợp quốc năm 2024, tăng 15 bậc so với năm trước và lần đầu tiên được xếp vào nhóm "rất cao" toàn cầu. Hiện có 70% dịch vụ công được cung cấp ở mức độ 4 (dịch vụ trực tuyến toàn trình). Hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia VNeID đã có hơn 50 triệu tài khoản, tạo nền tảng vững chắc cho chính phủ số.

Về kinh tế số: Đây là điểm sáng đặc biệt với kinh tế số đã trở thành động lực tăng trưởng mới. Thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ, đạt kim ngạch khoảng 20,5 tỷ USD năm 2024. Năm 2024, tỷ trọng kinh tế số đạt ước tính 18,3-18,6% GDP với tốc độ tăng trưởng vượt 20%/năm, cao gấp 3 lần tốc độ tăng GDP chung. Các tập đoàn công nghệ trong nước như FPT, VNPT, Viettel, VNG đã có những đột phá trong nghiên cứu phát triển, tạo ra các sản phẩm công nghệ có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Về xã hội số: Tỷ lệ dân số sử dụng Internet đã đạt trên 77%, với hơn 70 triệu người dùng mạng xã hội. Giáo dục số và y tế số cũng có những bước tiến đáng kể, đặc biệt trong giai đoạn đại dịch Covid-19. Trong lĩnh vực y tế, 100% cơ sở y tế đã chấp nhận thẻ Căn cước công dân gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID trong khám chữa bệnh, giúp giảm thiểu các thủ tục hành chính.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng tự hào, các chuyên gia, nhà khoa học cũng chỉ ra bốn thách thức lớn có tính chất hệ thống như sau:

Thách thức thứ nhất: Mô hình quản lý chưa thích ứng với kinh tế số. Mô hình quản lý kinh tế-xã hội hiện tại được thiết kế cho nền kinh tế công nghiệp truyền thống, chưa thích ứng với đặc điểm của kinh tế số và lực lượng sản xuất số. Sự xuất hiện của “lực lượng sản xuất số” - nơi dữ liệu, AI và nền tảng số trở thành tư liệu sản xuất chủ yếu - đòi hỏi mô hình quản lý hoàn toàn mới, linh hoạt và thích ứng.

Thách thức thứ hai: Các hình thái mới đòi hỏi khung quản trị mới. Sự xuất hiện của các hình thái mới như nền tảng số xuyên biên giới, lao động số, gig economy, dữ liệu như tài sản sản xuất, tiền số của ngân hàng Trung ương (CBDC) đặt ra những thách thức quản trị chưa từng có. Khung pháp lý hiện tại chưa đầy đủ để điều chỉnh các quan hệ mới này, đặc biệt trong quản lý nền tảng số xuyên biên giới, trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu.

Thách thức thứ ba: Nguy cơ gia tăng bất bình đẳng số. Chuyển đổi số đang tạo ra khoảng cách mới trong xã hội - khoảng cách số giữa đô thị và nông thôn, giữa các thế hệ, giữa lao động có kỹ năng cao và lao động phi chính thức. Nhóm lao động yếu thế như phụ nữ buôn bán nhỏ, người cao tuổi, lao động nông thôn đang có nguy cơ bị bỏ lại phía sau. Sự thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực số chất lượng cao (ước tính thiếu 30-50% trong lĩnh vực AI, khoa học dữ liệu) làm trầm trọng thêm tình trạng này.

Thách thức thứ tư: An ninh, chủ quyền số và quyền riêng tư. Trong môi trường số, các thách thức về an ninh quốc gia, chủ quyền dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư cá nhân ngày càng phức tạp. Tình trạng "ốc đảo dữ liệu" giữa các bộ, ngành cản trở việc liên thông và chia sẻ dữ liệu hiệu quả. Các cuộc tấn công mạng gia tăng đang làm suy giảm niềm tin của người dân vào hệ thống số.

Ba điểm nghẽn cụ thể cản trở quá trình chuyển đổi số

Về hạ tầng và dữ liệu: Mặc dù mạng Internet đã phủ sóng khá rộng, nhưng hạ tầng kỹ thuật và viễn thông vẫn còn bất cập, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Việc chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành còn hạn chế, chất lượng dữ liệu chưa cao và thiếu cơ chế bảo đảm tính liên thông cần thiết.

Về nhân lực và kỹ năng số: Kỹ năng số của người lao động hiện còn ở mức cơ bản, thiếu trình độ chuyên môn sâu. Có sự chênh lệch lớn về khoảng cách số giữa các vùng, miền và nhóm đối tượng. Đặc biệt, đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước chưa được trang bị đầy đủ năng lực quản trị số.

Về thể chế và quản trị: Khung pháp lý cho kinh tế số và dữ liệu còn trong quá trình hoàn thiện, chưa theo kịp tốc độ phát triển của công nghệ. Cơ chế điều phối liên ngành chưa hiệu quả, dẫn đến tình trạng phân mảnh trong triển khai chính sách chuyển đổi số.

kts.jpg
Các chuyên gia và nhà khoa học tham dự Hội thảo "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số".

Yêu cầu đặt ra đối với chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay

Theo các chuyên gia, nhà khoa học tại Diễn đàn "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số", từ thực tiễn và triển vọng hiện nay đặt ra những yêu cầu đối với quản lý phát triển kinh tế, xã hội và thể chế như sau:

Về yêu cầu đối với quản lý phát triển kinh tế:

Thứ nhất, chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Từ mô hình tăng trưởng dựa vào tích lũy vốn và mở rộng lao động sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và tri thức. Trong mô hình mới này, dữ liệu trở thành một loại tài nguyên mới, là lực lượng sản xuất mới với khả năng tái sử dụng và nhân rộng với chi phí cận biên thấp.

Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái dữ liệu: Cần giải quyết tình trạng “ốc đảo dữ liệu”, biến dữ liệu thành nền tảng liên thông, thống nhất. Điều này đòi hỏi cơ chế điều phối dữ liệu quốc gia, có thể cân nhắc thành lập Cơ quan Dữ liệu Quốc gia (National Data Authority) để bảo đảm tính thống nhất trong quản lý và sử dụng dữ liệu.

Thứ ba, số hóa đồng bộ nền kinh tế: Đẩy mạnh số hóa toàn diện các ngành công nghiệp cốt lõi - từ nông nghiệp, công nghiệp chế tạo đến dịch vụ. Cần có chiến lược riêng cho từng ngành, học hỏi kinh nghiệm mô hình Industrie 4.0 của Đức với nguyên tắc “tiêu chuẩn trước-dự án sau”.

Thứ tư, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa: Xây dựng mô hình thử nghiệm có điều tiết (regulatory sandbox) để giảm rủi ro công nghệ cho SME. Cung cấp các gói hỗ trợ voucher số, đào tạo và tư vấn kỹ thuật để giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa chuyển đổi số hiệu quả.

Về yêu cầu đối với quản lý phát triển xã hội:

Thứ nhất, bảo đảm nguyên tắc bao trùm: Quản lý phát triển xã hội số phải đặt nguyên tắc “không để ai bị bỏ lại phía sau” làm trọng tâm. Đây không chỉ là khẩu hiệu mà phải được thể chế hóa thành các chính sách cụ thể, đặc biệt đối với người cao tuổi, lao động nông thôn, các nhóm yếu thế.

Thứ hai, xây dựng niềm tin xã hội: Hiệu quả của quản trị số phụ thuộc quyết định vào niềm tin của người dân vào hệ thống. Cần hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ quyền riêng tư, xây dựng cơ chế giám sát độc lập và bảo đảm tính minh bạch trong sử dụng dữ liệu công.

Thứ ba, thu hẹp khoảng cách số: Triển khai mạnh mẽ chương trình “Bình dân học vụ số” cho toàn dân. Xây dựng đội ngũ “công chức số” có năng lực quản trị, phân tích và ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Thứ tư, thích ứng với già hóa dân số: Việt Nam đang bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh. Chuyển đổi số cần được thiết kế để hỗ trợ người cao tuổi thông qua các giải pháp chăm sóc sức khỏe từ xa, thành phố thông minh thân thiện với người già.

Về yêu cầu về thể chế và phát triển năng lực:

Về thể chế: Cần hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế số và xã hội số. Đặc biệt, cần có luật chuyên biệt về quản trị dữ liệu, quyền riêng tư và chia sẻ dữ liệu công-tư. Xây dựng cơ chế kiểm toán độc lập về an ninh dữ liệu.

Về tổ chức: Cần tăng cường cơ chế điều phối liên ngành hiệu quả, có thể cân nhắc thành lập cơ quan chuyên trách ở cấp cao. Đẩy mạnh chuyển đổi mô hình quản trị công sang hướng quản lý dựa trên dữ liệu.

Về phát triển năng lực: Xây dựng Khung năng lực số quốc gia tương thích với chuẩn quốc tế. Đổi mới chương trình đào tạo, tích hợp kỹ năng số vào giáo dục phổ thông và dạy nghề. Thúc đẩy mô hình hợp tác “ba nhà”: Nhà nước-Nhà trường-Nhà doanh nghiệp.

kts4.jpg
Các chuyên gia và nhà khoa học tham dự Hội thảo "Quản lý phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số".

Các nhóm giải pháp

Tại diễn đàn, các chuyên gia tại đã chỉ rõ những thách thức lớn đối với Việt Nam, đó là: Khung khổ chính sách pháp luật dù được gấp rút điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện nhưng chưa theo kịp tốc độ biến đổi của xã hội số, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), tài sản số, Cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành còn thiếu tính liên thông và sự chia sẻ, đã và đang tạo ra "bức tường vô hình", và gây lãng phí nguồn lực xã hội. Tồn tại khoảng cách lớn về kỹ năng số, tạo ra nguy cơ bất bình đẳng cơ hội cho các nhóm lao động dễ bị tổn thương.

Các chuyên gia, nhà khoa học đã đề xuất Viện Hàn lâm KHXH gửi đến chính phủ 06 nhóm giải pháp, bao gồm:

Thứ nhất, đặt chuyển đổi số là trục xuyên suốt của quá trình phát triển kinh tế-xã hội, không mang tính nhiệm kỳ.

Thứ hai, đổi mới tư duy thể chế: Chính phủ cần chuyển sang quản lý rủi ro bằng dữ liệu và phát triển mạnh cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (Regulatory Sandbox). Thứ ba, chiến lược dữ liệu quốc gia: Xác định dữ liệu (định danh, đất đai, an sinh...) là hạ tầng kinh tế-xã hội cốt lõi, yêu cầu đầu tư cho hạ tầng dữ liệu cũng cấp thiết không kém yêu cầu đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng đường cao tốc.

Thứ tư, bình dân học vụ kỹ năng số: Tập trung đào tạo lại và nâng cấp kỹ năng số cho toàn dân, ưu tiên các nhóm dễ bị tổn thương.

Thứ năm, hỗ trợ doanh nghiệp theo chuỗi: Chuyển đổi số gắn với các cụm đổi mới sáng tạo thay vì hỗ trợ đơn lẻ.

Thứ sáu, hướng tới mô hình quản trị đa tác nhân, trong đó Nhà nước có vai trò kiến tạo, doanh nghiệp cung cấp giải pháp, và người dân đóng vai trò trung tâm đồng sáng tạo chính sách.

Có thể bạn quan tâm

Ứng dụng công nghệ số giúp người dân tiếp cận thông tin hiệu quả hơn. (Ảnh: HNV)

Đưa công nghệ và kỹ năng số về tận từng người dân tại địa bàn cơ sở

Theo chân đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Truyền thông Phát triển (Red Communication) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Vusta) khảo sát thực tế tại Tam Thái (Nghệ An) và Đồng Hới-Phong Nha-Bố Trạch (Quảng Trị), chúng tôi tận mắt chứng kiến sự thay đổi của người dân dưới tác động của công nghệ số hiện nay.

Toàn cảnh buổi lễ Khai giảng. (Ảnh: HV)

Tăng cường đào tạo nghiên cứu sinh ngành Khoa học xã hội và nhân văn

Ngày 17/10 tại Hà Nội, Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Lễ khai giảng lớp nghiên cứu sinh. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có chuyên môn và năng lực đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Cán bộ, nhân viên Tập đoàn MISA tích cực nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hoạt động của doanh nghiệp (Ảnh: NGUYÊN TRANG)

Tạo giá trị từ AI

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cách thức vận hành mới của doanh nghiệp, giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và tối ưu nguồn lực. Hiệu quả của AI không chỉ dừng ở mức độ tự động hóa, mà còn có khả năng khắc phục điểm nghẽn và tăng năng suất.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: Ban tổ chức)

Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong cơ khí-động lực

Ngày 18/10, tại Trường đại học Thủy lợi, Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí-Động lực lần thứ XIX năm 2026 chính thức khai mạc, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên đến từ 22 trường đại học, viện nghiên cứu, học viện cùng đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí-động lực trên cả nước.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại tổ. (Ảnh: DUY LINH)

Hoàn thiện thể chế bưu chính, đo lường theo hướng quản lý thực chất, hiệu quả

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị tiếp tục hoàn thiện các dự án Luật Bưu chính (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường, chú trọng đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hậu kiểm, bảo đảm minh bạch cơ chế tài chính công ích, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển bền vững.

Toàn cảnh Hội thảo công bố 3 dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về mật mã hậu lượng tử của Ban Cơ yếu Chính phủ Ảnh: MINH DUY

Làm chủ công nghệ lõi mật mã: Ban Cơ yếu Chính phủ công bố 3 dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về mật mã hậu lượng tử

Sự phát triển vượt bậc của tính toán lượng tử cùng các thuật toán như Shor và Grover đang đặt các hệ mật mã hiện nay (RSA, ECC) trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn. Đặc biệt, chiến lược tấn công “Thu thập trước, giải mã sau” đang trực tiếp đe dọa bí mật quốc gia và an ninh dữ liệu được lưu trữ dài hạn.

Hoàn thiện chính sách và đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin tài nguyên-môi trường là nền tảng cốt lõi giúp bảo đảm tính minh bạch, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững. (Ảnh: HNV)

Hoàn thiện chính sách, bảo đảm chuyển đổi số, thúc đẩy tiếp cận thông tin, phát triển kinh tế

Quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” được khẳng định và thể hiện rõ trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong những năm trở lại đây, nhất là khi Việt Nam tích cực cam kết "giảm phát thải ròng bằng 0", thực hiện mục tiêu "Netzero" vào năm 2050.

Các đại biểu dự Hội thảo khảo sát thực tế tại Công ty cổ phần Gốm Đất Việt. (Ảnh: THU HƯỜNG)

Tăng vai trò thực chất của doanh nghiệp trong liên kết ba nhà

Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu, đầu tư nghiên cứu và đưa kết quả khoa học vào sản xuất. Những chuyển động trong khu vực doanh nghiệp thời gian qua đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn để liên kết ba nhà đi vào chiều sâu.

Phó Tổng Giám đốc FPT, Phạm Minh Tuấn cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành “customer zero” cho AI và công nghệ lượng tử. (Ảnh: FPT)

Thành phố Hồ Chí Minh trước cơ hội trở thành "Customer Zero" cho AI và công nghệ lượng tử

Đại diện Tập đoàn FPT cho biết với lợi thế về dữ liệu, những bài toán thực tế ở quy mô lớn và xu hướng công nghệ chủ quyền, Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành "customer zero" (Khách hàng số 0) - nơi đặt ra bài toán, kiểm thử và hoàn thiện các giải pháp công nghệ mới trước khi đưa ra thị trường quốc tế.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban Chỉ đạo 57 tỉnh Quảng Trị Vương Quốc Tuấn kết luận phiên họp chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đánh giá kết quả công tác quý III/2026 ngày 13/10. (Ảnh: HG)

Quảng Trị phê bình 43 xã, phường về đầu tư công lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phân công và tổ chức thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở một số cơ quan, địa phương chưa quyết liệt, chưa gắn trách nhiệm cá nhân với sản phẩm, tiến độ và kết quả cho nên lãnh đạo 43 xã, phường tại tỉnh Quảng Trị bị nghiêm khắc phê bình. 

Các đại biểu tham dự bài giảng đại chúng về các giải Nobel khoa học năm 2026. (Ảnh: Nhật Minh)

Ba giải Nobel khoa học năm 2026: Từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng thực tiễn

Chiều 15/10, Trung tâm Dữ liệu và Thông tin khoa học phối hợp Viện Khoa học vật liệu, Đoàn Thanh niên Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức chương trình bài giảng đại chúng giới thiệu ba giải Nobel khoa học 2026 về các lĩnh vực vật lý, hóa học và y sinh; thu hút đông đảo cán bộ, sinh viên, nhà nghiên cứu tham dự.