Làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm tại Việt Nam

Ngày 18/10, tại Khánh Hòa, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cùng Tập đoàn Việt-Úc tổ chức Hội thảo “Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam”.

Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại sự kiện. (Ảnh: BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ)
Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân phát biểu tại sự kiện. (Ảnh: BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ)

Hội thảo tập trung trao đổi kết quả nghiên cứu, xác định các nút thắt công nghệ và hướng hợp tác giữa cơ quan quản lý, viện, trường, doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

Xây dựng chương trình nghiên cứu trọng điểm về sản xuất giống tôm

Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), những năm qua, ngành nuôi trồng thủy sản nói chung và ngành tôm nói riêng đã đạt được nhiều kết quả sản xuất hết sức ấn tượng, giữ vững vị thế trụ cột trong phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Cả nước hiện có hơn 280.000 lồng nuôi tôm hùm thương phẩm, sản lượng khoảng 14.537 tấn/năm. Trong đó, Khánh Hòa và Đắk Lắk là hai địa phương nuôi tôm hùm trọng điểm, chiếm hơn 95% tổng số lồng nuôi và sản lượng cả nước. Viện Khoa học Thủy sản Việt Nam đã làm chủ kỹ thuật nuôi vỗ, thuần hóa tôm hùm bông bố mẹ, cho sinh sản và ấp nở trứng với tỷ lệ ấu trùng sống đạt trên 80%.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chưa tạo được tôm hùm giống ở một số giai đoạn trong điều kiện nhân tạo. Khó khăn chủ yếu nằm ở chu kỳ phát triển ấu trùng kéo dài, yêu cầu khắt khe về dinh dưỡng, môi trường nước, hệ thống ương nuôi và tỷ lệ hao hụt cao trong giai đoạn biến thái.

Theo báo cáo, nhu cầu tôm hùm giống phục vụ nuôi thương phẩm hằng năm ước khoảng 100-150 triệu con. Trong khi đó, nguồn giống khai thác từ vùng biển miền Trung chỉ cung cấp khoảng 10 triệu con, phần lớn nhu cầu còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu.

Năm 2024, Việt Nam nhập khẩu khoảng 92 triệu con tôm hùm giống; năm 2025 là 78 triệu con. Việc phụ thuộc nguồn cung bên ngoài tiềm ẩn nguy cơ gián đoạn sản xuất khi các quốc gia xuất khẩu thay đổi chính sách hoặc hạn chế khai thác. Bên cạnh đó, chất lượng con giống, dịch bệnh và tình trạng nhập khẩu không chính ngạch cũng đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý. Trong khi đó, quy mô nuôi tôm hùm trong nước tiếp tục phát triển.

Sản lượng tôm hùm nuôi năm 2025 đạt hơn 15.268 tấn, tăng mạnh so với mức 3.945 tấn năm 2023. Sự tăng trưởng này cho thấy tiềm năng kinh tế của ngành hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu cấp thiết về chủ động nguồn giống.

Từ thực tế này, Cục Thủy sản và Kiểm ngư đề xuất xây dựng chương trình nghiên cứu trọng điểm về sản xuất giống tôm hùm nhân tạo; tăng cường hợp tác quốc tế, tập trung hoàn thiện công nghệ thức ăn, hệ thống ươm nuôi.

Đối với tôm nước lợ, chương trình chọn giống tôm sú đã phát triển đến thế hệ G7, ứng dụng chỉ thị phân tử kết hợp chọn lọc gia đình nhằm cải thiện tốc độ sinh trưởng và khả năng chống chịu dịch bệnh.

Đối với tôm thẻ chân trắng, chương trình chọn giống qua 9 thế hệ đã tạo ra các dòng tôm có tốc độ tăng trưởng cao hơn 15-25% so với đàn ban đầu. Tuy nhiên, nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu vẫn chiếm tỷ trọng lớn, đòi hỏi tiếp tục đầu tư nghiên cứu và phát triển các dòng giống trong nước.

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ vào sản xuất

Phát biểu tại hội thảo, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân cho biết, đánh giá cao nỗ lực của các nhà khoa học, doanh nghiệp trong nghiên cứu, ứng dụng công nghệ vào sản xuất giống thủy sản.

Theo Bộ trưởng, để nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển, cần tập trung nguồn lực giải quyết những vấn đề trọng tâm, ưu tiên các khâu còn hạn chế, chưa làm chủ được về công nghệ, tránh triển khai dàn trải.

ht-tc-2412.jpg
Các đại biểu tham dự Hội thảo “Nghiên cứu làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm biển và chọn giống tôm nước lợ tại Việt Nam”. (Ảnh: BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ)

Đối với chọn tạo giống tôm nước lợ, cần gắn mục tiêu nghiên cứu với yêu cầu thực tiễn của sản xuất. Các bên cần xác định những tính trạng chọn giống ưu tiên, trong đó chú trọng sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và chống chịu với điều kiện bất lợi, đồng thời quan tâm đến việc chủ động nguồn tôm bố mẹ.

Bên cạnh đó, Bộ trưởng cũng cho rằng cần tổ chức thực hiện theo mô hình hợp tác Nhà nước-Nhà khoa học-Doanh nghiệp, với vai trò và trách nhiệm rõ ràng. Hợp tác quốc tế cần được triển khai có mục tiêu, gắn với những vấn đề Việt Nam cần giải quyết và yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ công nghệ. Các định hướng nghiên cứu cần được chuyển hóa thành chương trình, nhiệm vụ, cụm nhiệm vụ hoặc chuỗi nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có mục tiêu rõ ràng.

Bộ trưởng đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ xác định các nhóm vấn đề ưu tiên, mục tiêu cần đạt, đơn vị có thể chủ trì hoặc tham gia, nguồn lực dự kiến và lộ trình thực hiện. Trên cơ sở đó, nghiên cứu xây dựng chương trình, nhiệm vụ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo phù hợp để xem xét đặt hàng hoặc phê duyệt theo quy định.

Chia sẻ về giải pháp nuôi tôm hiệu quả, đại diện Tập đoàn Thủy sản Việt-Úc đã trình bày các hướng nghiên cứu được đề cập gồm nâng cao tỷ lệ sống của ấu trùng, rút ngắn thời gian phát triển, cải thiện hiệu suất sinh sản của tôm bố mẹ, tăng khả năng kháng bệnh và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng thức ăn.

Từ nền tảng nghiên cứu di truyền và chọn giống tôm thẻ chân trắng, tập đoàn Việt - Úc đã phát hiện nhiều gene tương đồng với tôm hùm bông, mở ra triển vọng ứng dụng các thành tựu chọn giống để cải thiện những tính trạng quan trọng của loài này.

Theo Tiến sĩ Lữ Đức Bryce, Phó Tổng Giám đốc Di truyền và Hệ gene Tập đoàn Thủy sản Việt-Úc, với nhiều năm đầu tư vào công nghệ, hệ thống nghiên cứu và sản xuất giống, tập đoàn có cơ sở để tham gia phát triển chương trình chọn giống tôm hùm bông. Đồng thời, doanh nghiệp xác định hợp tác quốc tế là yếu tố quan trọng nhằm tiếp cận công nghệ tiên tiến, rút ngắn quá trình nghiên cứu và từng bước làm chủ công nghệ sản xuất giống tôm hùm bông tại Việt Nam.

Tại hội thảo, các đại biểu cũng trao đổi, phân tích những khó khăn, nút thắt về khoa học, công nghệ, nhất là trong nghiên cứu sản xuất giống tôm hùm nhân tạo. Đồng thời, đề xuất giải pháp tăng cường liên kết giữa cơ quan quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp; huy động nguồn lực nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng con giống.

Có thể bạn quan tâm

Triển lãm các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu, bán dẫn của Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: HÀ LINH)

Đầu tư phù hợp cho công nghệ chiến lược

Chủ trương phát triển công nghệ chiến lược đang được cụ thể hóa bằng việc hoàn thiện thể chế, xác định các hướng nghiên cứu ưu tiên và phê duyệt các nhiệm vụ công nghệ chiến lược.

Ứng dụng công nghệ số giúp người dân tiếp cận thông tin hiệu quả hơn. (Ảnh: HNV)

Đưa công nghệ và kỹ năng số về tận từng người dân tại địa bàn cơ sở

Theo chân đoàn công tác của Viện Nghiên cứu Truyền thông Phát triển (Red Communication) thuộc Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam (Vusta) khảo sát thực tế tại Tam Thái (Nghệ An) và Đồng Hới-Phong Nha-Bố Trạch (Quảng Trị), chúng tôi tận mắt chứng kiến sự thay đổi của người dân dưới tác động của công nghệ số hiện nay.

Toàn cảnh buổi lễ Khai giảng. (Ảnh: HV)

Tăng cường đào tạo nghiên cứu sinh ngành Khoa học xã hội và nhân văn

Ngày 17/10 tại Hà Nội, Học viện Khoa học xã hội (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Lễ khai giảng lớp nghiên cứu sinh. Đây là hoạt động thiết thực hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn có chuyên môn và năng lực đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Cán bộ, nhân viên Tập đoàn MISA tích cực nghiên cứu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hoạt động của doanh nghiệp (Ảnh: NGUYÊN TRANG)

Tạo giá trị từ AI

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cách thức vận hành mới của doanh nghiệp, giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí và tối ưu nguồn lực. Hiệu quả của AI không chỉ dừng ở mức độ tự động hóa, mà còn có khả năng khắc phục điểm nghẽn và tăng năng suất.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh: Ban tổ chức)

Thúc đẩy nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong cơ khí-động lực

Ngày 18/10, tại Trường đại học Thủy lợi, Hội nghị Khoa học và Công nghệ Cơ khí-Động lực lần thứ XIX năm 2026 chính thức khai mạc, quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên đến từ 22 trường đại học, viện nghiên cứu, học viện cùng đại diện doanh nghiệp trong lĩnh vực cơ khí-động lực trên cả nước.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại tổ. (Ảnh: DUY LINH)

Hoàn thiện thể chế bưu chính, đo lường theo hướng quản lý thực chất, hiệu quả

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị tiếp tục hoàn thiện các dự án Luật Bưu chính (sửa đổi) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đo lường, chú trọng đổi mới phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả hậu kiểm, bảo đảm minh bạch cơ chế tài chính công ích, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thúc đẩy phát triển bền vững.

Toàn cảnh Hội thảo công bố 3 dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về mật mã hậu lượng tử của Ban Cơ yếu Chính phủ Ảnh: MINH DUY

Làm chủ công nghệ lõi mật mã: Ban Cơ yếu Chính phủ công bố 3 dự thảo tiêu chuẩn quốc gia về mật mã hậu lượng tử

Sự phát triển vượt bậc của tính toán lượng tử cùng các thuật toán như Shor và Grover đang đặt các hệ mật mã hiện nay (RSA, ECC) trước nguy cơ bị phá vỡ hoàn toàn. Đặc biệt, chiến lược tấn công “Thu thập trước, giải mã sau” đang trực tiếp đe dọa bí mật quốc gia và an ninh dữ liệu được lưu trữ dài hạn.

Hoàn thiện chính sách và đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp cận thông tin tài nguyên-môi trường là nền tảng cốt lõi giúp bảo đảm tính minh bạch, hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững. (Ảnh: HNV)

Hoàn thiện chính sách, bảo đảm chuyển đổi số, thúc đẩy tiếp cận thông tin, phát triển kinh tế

Quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” được khẳng định và thể hiện rõ trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của nước ta trong những năm trở lại đây, nhất là khi Việt Nam tích cực cam kết "giảm phát thải ròng bằng 0", thực hiện mục tiêu "Netzero" vào năm 2050.

Các đại biểu dự Hội thảo khảo sát thực tế tại Công ty cổ phần Gốm Đất Việt. (Ảnh: THU HƯỜNG)

Tăng vai trò thực chất của doanh nghiệp trong liên kết ba nhà

Việc thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt ra yêu cầu phát huy vai trò của doanh nghiệp trong xác định nhu cầu, đầu tư nghiên cứu và đưa kết quả khoa học vào sản xuất. Những chuyển động trong khu vực doanh nghiệp thời gian qua đặt ra yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn để liên kết ba nhà đi vào chiều sâu.

Phó Tổng Giám đốc FPT, Phạm Minh Tuấn cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành “customer zero” cho AI và công nghệ lượng tử. (Ảnh: FPT)

Thành phố Hồ Chí Minh trước cơ hội trở thành "Customer Zero" cho AI và công nghệ lượng tử

Đại diện Tập đoàn FPT cho biết với lợi thế về dữ liệu, những bài toán thực tế ở quy mô lớn và xu hướng công nghệ chủ quyền, Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành "customer zero" (Khách hàng số 0) - nơi đặt ra bài toán, kiểm thử và hoàn thiện các giải pháp công nghệ mới trước khi đưa ra thị trường quốc tế.

Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng ban Chỉ đạo 57 tỉnh Quảng Trị Vương Quốc Tuấn kết luận phiên họp chuyên đề về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và đánh giá kết quả công tác quý III/2026 ngày 13/10. (Ảnh: HG)

Quảng Trị phê bình 43 xã, phường về đầu tư công lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, phân công và tổ chức thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở một số cơ quan, địa phương chưa quyết liệt, chưa gắn trách nhiệm cá nhân với sản phẩm, tiến độ và kết quả cho nên lãnh đạo 43 xã, phường tại tỉnh Quảng Trị bị nghiêm khắc phê bình. 

Các đại biểu tham dự bài giảng đại chúng về các giải Nobel khoa học năm 2026. (Ảnh: Nhật Minh)

Ba giải Nobel khoa học năm 2026: Từ nghiên cứu cơ bản đến ứng dụng thực tiễn

Chiều 15/10, Trung tâm Dữ liệu và Thông tin khoa học phối hợp Viện Khoa học vật liệu, Đoàn Thanh niên Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam tổ chức chương trình bài giảng đại chúng giới thiệu ba giải Nobel khoa học 2026 về các lĩnh vực vật lý, hóa học và y sinh; thu hút đông đảo cán bộ, sinh viên, nhà nghiên cứu tham dự.