1Hạ dần độ cao, từ xa đã thấy cây cầu Pa Phông đỏ sẫm vắt ngang lòng hồ sông Đà. Con đường độc đạo nối trung tâm xã Tủa Thàng (tỉnh Điện Biên) với bản Huổi Lóng bỗng trở nên mềm mại như nét vẽ trên nền núi đá. Ở vị trí này, sông Đà vặn mình, nước biêng biếc như ngọc. Ngay cạnh cầu là căn homestay nhỏ của gia đình chị Quàng Thị Hoa, cán bộ xã Tủa Thàng. Ngôi nhà còn mới, mùi gỗ vẫn thơm.
Chị Hoa sinh năm 1989, dáng người nhỏ, giọng nói ấm. Khi khách tắm nước lạnh, chị có chút áy náy, ánh mắt lộ rõ sự bối rối của người chủ nhà luôn muốn mọi thứ được chu đáo. Chồng chị, anh Dành, là người Dao quần chẹt. Hai vợ chồng tiêu biểu cho thế hệ trẻ nơi đây, dám nghĩ, dám làm và đầy khát vọng với quê hương.
Bên mâm cơm chiều muộn, anh Dành hồ hởi kể về những lồng cá dưới sông. Cá được nuôi trong lồng bè, lớn nhanh nhờ nguồn nước sạch của lòng hồ. Sau khi tham gia các lớp tập huấn nuôi trồng thủy sản do địa phương tổ chức, vợ chồng anh đã mạnh dạn đầu tư. Mỗi năm, trừ chi phí, vẫn còn lại khoản thu nhập đủ để nuôi con ăn học và tích cóp cho tương lai.
2Sáng hôm sau, chúng tôi rời nhà chị Hoa để đến Huổi Lóng, một trong những bản xa nhất của xã. Con đường quanh co bám theo sườn núi, một bên là đá xám, một bên là lòng hồ xanh thẳm. Huổi Lóng là nơi người Dao sinh sống đông nhất, cũng là bản duy nhất của xã có chợ phiên trên sông. Mỗi tháng bốn phiên, thuyền bè từ các bản ven hồ mang theo nông sản, cá, rau rừng, mật ong… tụ về, tạo nên khu chợ nổi nhỏ bé giữa núi rừng.
Để có một tấm vải chàm, người phụ nữ Dao phải bắt đầu từ hạt bông. Họ trồng bông trên nương, đợi đến mùa nắng đẹp mới thu hoạch. Bông được phơi trắng trên những tảng đá lớn. Sau đó tách hạt, bật cho tơi rồi quay thành sợi. Sợi được kéo đều tay, cuốn vào ống, mắc lên khung cửi. Khung dệt của người Dao quần chẹt làm từ thân gỗ già. Bốn cột trụ giữ cho khung chắc chắn, phía trên là hai xà ngang và hai xà dọc. Bộ chia sợi và chải sợi thường làm bằng tre. Nhìn qua có vẻ giản đơn, nhưng khung cửi rất vững, đủ để người thợ ngồi dệt cả ngày mà không mỏi.
Công phu nhất là nhuộm chàm. Lá chàm được giã nhuyễn, lọc lấy nước, ủ nhiều ngày cho lên men. Tấm vải trắng được nhúng vào nước chàm rồi đem phơi. Khi khô lại nhúng tiếp. Cứ thế lặp đi lặp lại nhiều lần cho đến khi màu xanh đậm dần, sâu dần, gần như hút hết ánh sáng. Màu chàm ấy bền đến mức dù trải qua bao mưa nắng, áo vẫn giữ nguyên sắc. Phụ nữ Dao quần chẹt còn nổi tiếng với kỹ thuật ghép vải. Trên cổ tay áo hay nẹp áo là nhiều chi tiết rất nhỏ. Họ cắt những dải vải màu khác nhau rồi ghép lại thành những viền màu mảnh như sợi chỉ. Khi nhìn bằng mắt thường, ta chỉ thấy những đường màu đều đặn, tinh tế mà không nhận ra các mảnh vải đã được nối lại thế nào.
Ai đó nói, có lẽ hơi tiếc vì nghề dệt ở Huổi Só hiện vẫn chủ yếu để tự dùng, chưa trở thành hàng hóa. Nhưng với người Dao, tấm vải chàm trước hết là câu chuyện của gia đình, dòng tộc. Mỗi đường kim đều chứa đựng ký ức của núi rừng. Trong trí tưởng tượng của người thêu, những họa tiết dần hiện ra, khi là dãy núi nối tiếp nhau không có điểm dừng, khi là bông lúa cong mình, khi là bắp ngô đầy hạt.
Điều khiến người ta nhớ nhất ở Huổi Lóng là sắc chàm. Đi qua bất cứ ngôi nhà nào cũng có thể bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ Dao đang ngồi bên khung cửi. Họ mặc trang phục truyền thống, tóc đen mượt rẽ ngôi giữa, ánh mắt chăm chú vào từng sợi chỉ. Tiếng khung dệt gõ đều đều như nhịp tim của bản.