Biến phụ phẩm nông nghiệp thành “vàng” cho đất

Phát triển cây cà-phê ở Sơn La nhiều năm qua đã giúp bà con cải thiện sinh kế, nhưng đồng thời đặt ra vấn đề xử lý nước thải, phụ phẩm nông nghiệp.

Hướng dẫn bà con ủ vỏ cà-phê. Ảnh: Bùi Hà
Hướng dẫn bà con ủ vỏ cà-phê. Ảnh: Bùi Hà

Tại xã Chiềng Ban, huyện Mai Sơn, nay là xã Chiềng Mai, tỉnh Sơn La, mô hình tái sinh vỏ cà-phê thành phân bón hữu cơ vi sinh và xử lý nước thải đang mang lại giá trị thiết thực cho nông hộ.

Đối với các nông hộ nhỏ ở xã Chiềng Mai, việc tăng sản lượng cà-phê đi kèm với yêu cầu phải xử lý nước thải và tái chế phụ phẩm nông nghiệp. Hiện nay, phần lớn người dân chế biến cà-phê theo phương pháp làm ướt, đây là cách làm phổ biến tại địa phương nhưng lại tạo ra lượng lớn nước thải trong khi những cơ sở chế biến quy mô hộ và hợp tác xã chưa có hệ thống xử lý phù hợp. Tình trạng xả thải trực tiếp ra môi trường đang gây ô nhiễm cục bộ địa phương.

Theo chuyên gia Bùi Thị Hà, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Nông lâm nghiệp Tây Bắc (NOMAFSI), hiện nay, trung tâm đang hướng dẫn bà con ở một số cơ sở chế biến nhỏ và hợp tác xã ở Chiềng Mai áp dụng các giải pháp xử lý sinh học chi phí thấp và tái chế phụ phẩm cà-phê. Trước đây, sau mỗi vụ thu hoạch, vỏ cà-phê bị vứt bỏ vì phụ phẩm này không thể dùng để làm thức ăn chăn nuôi như một số loại nông sản khác. Nhưng từ năm 2024, các chuyên gia của NOMAFSI đã trực tiếp “cầm tay chỉ việc” bà con ủ vỏ cà-phê đúng kỹ thuật để tạo ra nguồn phân bón giàu dinh dưỡng, an toàn cho đất và cây trồng.

Mô hình đã giúp tận dụng tối đa phụ phẩm nông nghiệp, cải thiện độ phì nhiêu đất, thông qua đó giảm phát thải, bảo vệ môi trường. Tuy nhiên lợi ích rõ rệt và thiết thực nhất là giúp giảm chi phí mua phân bón hóa học cho chủ vườn cà-phê. Bằng cách dùng vỏ quả cà-phê ủ với phân chuồng và chế phẩm vi sinh, những hộ tham gia dự án đã tự sản xuất được phân hữu cơ, còn bã cà-phê được sử dụng làm giá thể hoặc cải tạo đất. “Chi phí xử lý khoảng 735.000 đồng cho mỗi tấn vỏ cà-phê, đồng thời có thể thu được khoảng 600-700 kg phân hữu cơ, giúp giảm chi phí đầu vào cho nông hộ và hạn chế lượng chất thải rắn thải ra môi trường”, bà Bùi Thị Hà cho biết thêm.

Ngoài ra, thay vì sử dụng các công nghệ xử lý phức tạp và chi phí cao, các hộ tham gia thí điểm đã áp dụng hệ thống xử lý sinh học ba bể đơn giản, phù hợp với các cơ sở chế biến quy mô nhỏ. Tổng chi phí đầu tư hệ thống khoảng 26,2 triệu đồng cho quy mô xử lý 100 tấn quả cà-phê, mức chi phí được đánh giá là phù hợp với khả năng tài chính của nhiều hợp tác xã và cơ sở chế biến nhỏ. Không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mô hình đã góp phần thay đổi cách nhìn về sản xuất của nhiều nông hộ, từ những thứ trước đây phải bỏ đi thì nay bà con đã có thể tái tạo, đưa phụ phẩm và nước thải quay vòng vào canh tác. Từ canh tác phụ thuộc đầu vào bên ngoài sang chủ động nguồn dinh dưỡng tại chỗ, vỏ cà-phê được hồi sinh thành “vàng nâu” để nuôi dưỡng lại chính mảnh đất đã tạo nên nó.

Nhờ cách làm hiệu quả, nhiều hộ dân đã có nguồn thu trước mắt, đồng thời xây dựng một hệ thống canh tác tuần hoàn và bền vững cho tương lai, không chỉ thay đổi kỹ thuật mà còn thay đổi tư duy từ sản xuất đơn canh sang làm nông nghiệp sinh thái, từng bước hình thành vùng sản xuất tuần hoàn.

Có thể bạn quan tâm

Nhờ hương ước, người dân bản Bướt giữ được rừng nguyên sinh.

Hương ước giữ rừng, giữ suối ở bản Bướt

Ở bản Bướt (xã Vân Hồ, tỉnh Sơn La), chặt một cây rừng hay bắt một con cá suối bị phạt bằng 20 cân thóc. Đằng sau quy ước tưởng như khắt khe ấy là câu chuyện người Thái giữ rừng, giữ suối và gìn giữ cách sống thuận theo tự nhiên suốt nhiều năm qua.

Đồng bào dân tộc ở Sơn La trồng cây phủ xanh đất trống, đồi trọc.

Nâng cao độ che phủ rừng, tạo sinh kế bền vững

Dưới chân những dãy núi trập trùng và bầu trời Tây Bắc, tỉnh Sơn La đang viết tiếp một câu chuyện về rừng - xanh hơn, bền vững hơn và gắn chặt với cuộc sống của người dân. Tại đây, từng hecta đất trống, đồi trọc dần được phủ xanh, không chỉ góp phần bảo vệ môi trường sinh thái mà còn mở ra những sinh kế mới cho cộng đồng.

Du khách nước ngoài thích thú với những sản phẩm vải lanh của Lùng Tám.

Những tấm vải nối bao thế hệ

Sáng ở xã Lùng Tám huyện Quảng Bạ, Hà Giang (cũ) nay là tỉnh Tuyên Quang, sương còn quẩn quanh những mỏm đá tai mèo, tiếng khung cửi gỗ đã cất lên đều đặn. Ở đây, người H’Mông dệt lanh không phải để trình diễn cho du khách, mà như một thói quen sống xanh, chậm rãi, bền bỉ, gắn chặt với nhịp núi rừng.

Người dân bản Phụ Mẫu trồng vườn rừng 7 tầng ở Suối Piu. Ảnh: Pv

Phục hồi sinh thái gắn liền sinh kế cộng đồng

Từ những khó khăn sinh kế ở bản Phụ Mẫu đến nỗ lực phục hồi rừng và mở hướng làm ăn mới, mô hình vườn rừng 7 tầng tại Suối Piu (Sơn La) đang trở thành điểm tựa cho cộng đồng: Vừa cải tạo đất, chống sạt lở, vừa tạo sinh kế và kết nối du lịch.

Các tác phẩm nghệ thuật được thể hiện trên giấy dứa.

Lá dứa lên tranh

Tầm cuối năm âm lịch cữ tháng 10 tháng 11, bà con người H’Mông ở thung lũng Hang Kia, Pà Cò (huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình cũ - nay là xã Pà Cò, tỉnh Phú Thọ) lại vào mùa làm giấy giang.

Thu hoạch quả cà-phê tại Hợp tác xã Cà-phê Bích Thao.

Phát triển sản phẩm nông nghiệp theo hướng đi “xanh”

Nông nghiệp Sơn La đang chuyển mình mạnh mẽ, hiện là tỉnh có diện tích cây ăn quả lớn nhất miền bắc với tổng diện tích là 85 nghìn ha, sản lượng quả năm 2025 ước đạt 510 nghìn tấn. Từ những vùng đất đồi trơ trụi, nay đã được phủ xanh bởi những nương cây ăn quả, vùng chè, cà-phê, rau an toàn đạt chuẩn VietGAP, GlobalGAP.