Tọa đàm "Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?”
Tọa đàm "Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?”

Trao quyền để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng

Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số và xây dựng những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh khu vực, toàn cầu, doanh nghiệp nhà nước được kỳ vọng tiếp tục giữ vai trò nòng cốt ở các ngành, lĩnh vực thiết yếu, đồng thời tiên phong trong đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ và dẫn dắt các chuỗi giá trị.

Ngày 31/7, tại Hà Nội Báo Nhân Dân tổ chức tọa đàm "Làm gì để doanh nghiệp nhà nước thực sự dẫn dắt tăng trưởng?”. Toạ đàm có sự tham dự của bà Nguyễn Thu Thuỷ - Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính); Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương; Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni.

Tại toạ đàm, các nhà quản lý và chuyên gia đã cùng phân tích những yêu cầu mới, những điểm nghẽn cần tháo gỡ cũng như các điều kiện để khu vực doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành động lực phát triển trong giai đoạn mới.

2aoboqobquvalxymozexyobpexh1yex8hsiyi5j6.jpg
Toàn cảnh buổi tọa đàm.

Vai trò mới đòi hỏi tư duy và cách tiếp cận mới

Mở đầu tọa đàm, trao đổi về vai trò của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh đất nước hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tiếp, bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính), cho rằng xuyên suốt các thời kỳ, Đảng luôn khẳng định doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước, giữ vai trò nòng cốt ở những ngành, lĩnh vực then chốt, thiết yếu, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh và các cân đối lớn của nền kinh tế.

Tuy nhiên, theo bà Thu Thủy, bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước đã cao hơn rất nhiều. Nếu trước đây trọng tâm là bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô thì nay doanh nghiệp nhà nước còn phải trở thành lực lượng dẫn dắt, tạo động lực phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

2aoboqobnyg117igcd3dmi96nyoxfy7awjbevcd2.jpg
Bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính).

Nghị quyết số 79 của Bộ Chính trị đã xác định rõ định hướng này khi đặt mục tiêu xây dựng các doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại và đủ sức cạnh tranh trong nước cũng như trên thị trường quốc tế. Cùng với đó là yêu cầu doanh nghiệp nhà nước phải đi đầu trong đầu tư khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh - những động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế trong giai đoạn tới.

Đáng chú ý, Nghị quyết 79 cũng đưa ra các mục tiêu rất cụ thể, trong đó phấn đấu đến năm 2030 có từ 1 đến 3 doanh nghiệp Việt Nam nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới và có 50 doanh nghiệp nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất châu Á. Cùng với yêu cầu về quy mô là mục tiêu 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp theo chuẩn OECD. Theo bà Thu Thủy, đây là yêu cầu tất yếu để doanh nghiệp nhà nước nâng cao năng lực quản trị theo thông lệ quốc tế, tạo nền tảng phát triển bền vững trong dài hạn.

Không chỉ dừng ở việc nâng cao hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp, mục tiêu cuối cùng là hình thành những doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh để dẫn dắt các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, đồng thời tạo sự liên kết với khu vực doanh nghiệp tư nhân và các thành phần kinh tế khác nhằm tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như toàn cầu.

Bà Nguyễn Thu Thủy, Phó Cục trưởng Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính)

Không chỉ dừng ở việc nâng cao hiệu quả hoạt động của từng doanh nghiệp, bà Thu Thủy nhấn mạnh mục tiêu cuối cùng là hình thành những doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh để dẫn dắt các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế, đồng thời tạo sự liên kết với khu vực doanh nghiệp tư nhân và các thành phần kinh tế khác nhằm tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị trong nước cũng như toàn cầu.

Tiếp nối câu chuyện về những kỳ vọng mới đối với doanh nghiệp nhà nước, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cho rằng điều khó nhất hiện nay không phải là xác định mục tiêu mà là thay đổi tư duy để hiện thực hóa mục tiêu đó.

bac-cung.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương.

Theo ông, hơn 30 năm qua, quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước chủ yếu tập trung vào việc thu hẹp số lượng doanh nghiệp, sắp xếp lại những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần nắm giữ. Tuy nhiên, giữa chủ trương xây dựng doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt, dẫn dắt với kết quả thực tế vẫn còn khoảng cách khá lớn, mà nguyên nhân quan trọng nằm ở thể chế.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung cho rằng điều kiện tiên quyết là chủ sở hữu phải xác định rõ tầm nhìn, chiến lược và các mục tiêu cụ thể đối với doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp cần được trao quyền tự chủ thực chất trong việc lựa chọn phương thức thực hiện, huy động nguồn lực, thu hút nhân sự cũng như được hưởng thành quả từ kết quả hoạt động để tiếp tục tái đầu tư và phát triển.

Muốn doanh nghiệp nhà nước thực sự tiên phong thì phải chấp nhận rủi ro. Muốn làm chủ khoa học công nghệ thì phải đầu tư lớn cho tiếp thu, cải tiến và đổi mới sáng tạo. Đây đều là những lĩnh vực có mức độ rủi ro rất cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn lực đủ mạnh để theo đuổi trong dài hạn.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

"Muốn doanh nghiệp nhà nước thực sự tiên phong thì phải chấp nhận rủi ro. Muốn làm chủ khoa học công nghệ thì phải đầu tư lớn cho tiếp thu, cải tiến và đổi mới sáng tạo. Đây đều là những lĩnh vực có mức độ rủi ro rất cao, đòi hỏi doanh nghiệp phải có nguồn lực đủ mạnh để theo đuổi trong dài hạn", Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung phân tích.

Theo ông, trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu hiện nay, cuộc cạnh tranh không còn diễn ra giữa từng doanh nghiệp đơn lẻ mà là giữa các chuỗi giá trị. Vì vậy, Việt Nam cần hình thành những doanh nghiệp đủ sức đóng vai trò "leading firm", tạo dựng hệ sinh thái doanh nghiệp vệ tinh, thay vì chỉ tham gia ở những khâu có giá trị gia tăng thấp.

Để minh họa cho quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung dẫn trường hợp của Viettel - doanh nghiệp đã chuyển đổi thành công từ một đơn vị xây lắp sang doanh nghiệp viễn thông, rồi tiếp tục phát triển thành doanh nghiệp công nghiệp công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Điều đáng chú ý không chỉ là sự lớn mạnh của bản thân doanh nghiệp mà còn ở việc Viettel đã từng bước hình thành chuỗi giá trị và có khả năng dẫn dắt cả hệ thống doanh nghiệp cùng phát triển. Theo ông, đây là mô hình rất đáng nghiên cứu đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước.

Bổ sung góc nhìn từ thực tiễn phát triển của nền kinh tế, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni, cho rằng doanh nghiệp nhà nước hiện vẫn đang sở hữu nhiều lợi thế mà không phải khu vực nào cũng có.

2aoboqobnynupjhl2cv3lcmae3alee4eledvhjoc.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni.

Theo ông, lợi thế đầu tiên là nguồn lực và vị thế chi phối trong nhiều ngành kinh tế trọng yếu như năng lượng, hạ tầng, viễn thông hay tài chính. Đây đều là những lĩnh vực có nhu cầu ngày càng lớn cùng với quá trình phát triển của đất nước, đồng thời mang tính độc quyền tự nhiên, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt.

Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh cũng khẳng định, sau gần 40 năm đổi mới, doanh nghiệp nhà nước đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình phát triển đất nước. Nếu không có khu vực này, Việt Nam khó có thể hình thành hệ thống hạ tầng, năng lượng hay các tập đoàn tài chính đủ sức hỗ trợ tăng trưởng như hiện nay. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp như Viettel hay Petrovietnam đã từng bước làm chủ công nghệ, xây dựng được thương hiệu quốc gia và tạo nền tảng cho sự phát triển của nhiều ngành kinh tế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, một lợi thế rất lớn nhưng chưa được khai thác đúng mức là dữ liệu. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đang sở hữu những tập dữ liệu khách hàng có quy mô rất lớn. Nếu kết hợp hiệu quả với chuyển đổi số và công nghệ phân tích dữ liệu, đây sẽ là nguồn lực quan trọng để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng những lợi thế đó sẽ không tự động chuyển hóa thành sức mạnh nếu doanh nghiệp không thay đổi tư duy phát triển. Thực tế cho thấy phần lớn doanh nghiệp nhà nước vẫn chủ yếu khai thác thị trường trong nước, chưa thực sự bước ra cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Vì vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là phát huy lợi thế sẵn có mà còn phải chuyển từ tư duy phòng thủ sang tư duy tấn công, xây dựng các chuỗi giá trị của Việt Nam và từng bước vươn ra thị trường toàn cầu.

Tháo gỡ điểm nghẽn để doanh nghiệp nhà nước dám nghĩ, dám làm

Sau khi phân tích vai trò và những yêu cầu mới đối với doanh nghiệp nhà nước, các diễn giả tập trung làm rõ câu hỏi lớn tiếp theo: muốn doanh nghiệp nhà nước thực sự trở thành lực lượng dẫn dắt thì cần tháo gỡ những điểm nghẽn nào về cơ chế và cách thức quản lý.

Trao đổi về mục tiêu xây dựng danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn theo Nghị quyết 79, bà Nguyễn Thu Thủy cho biết đây không đơn thuần là việc lựa chọn một số doanh nghiệp có quy mô lớn hiện nay, mà là quá trình xây dựng những doanh nghiệp có khả năng giữ vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Theo bà, các tiêu chí lựa chọn sẽ tham khảo các chuẩn mực của những bảng xếp hạng quốc tế như Fortune Global 500 hay Fortune Asia 500, trong đó quy mô tài sản, vốn chủ sở hữu và nhiều chỉ tiêu tài chính quan trọng sẽ là những căn cứ chính. Tuy nhiên, cách tiếp cận của Bộ Tài chính không chỉ nhìn vào quy mô hiện tại mà còn xem xét tiềm năng phát triển của từng doanh nghiệp trong tương lai.

"Trước hết phải xác định những ngành, lĩnh vực Nhà nước cần có vai trò dẫn dắt, sau đó mới lựa chọn doanh nghiệp phù hợp. Có những doanh nghiệp hiện nay quy mô chưa lớn nhưng nếu hoạt động trong lĩnh vực chiến lược và có tiềm năng phát triển thì vẫn sẽ được đưa vào định hướng để đầu tư, phát triển trở thành doanh nghiệp mạnh", bà Nguyễn Thu Thủy chia sẻ.

Theo bà, cùng với việc xây dựng danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, Bộ Tài chính cũng đang nghiên cứu phương án tiếp tục cơ cấu lại khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng tinh gọn, tập trung nguồn lực.

Sau gần 40 năm đổi mới, số lượng doanh nghiệp có vốn nhà nước đã giảm từ khoảng 50.000 xuống còn khoảng 850 doanh nghiệp, trong đó khoảng 700 doanh nghiệp do Nhà nước nắm trên 50% vốn điều lệ. Riêng 18 tập đoàn, tổng công ty do Bộ Tài chính làm cơ quan đại diện chủ sở hữu hiện đang nắm giữ hơn 60% tổng vốn và tài sản của khu vực doanh nghiệp nhà nước. Đây là nền tảng để tiếp tục tập trung nguồn lực cho những doanh nghiệp giữ vai trò then chốt trong thời gian tới.

Bổ sung góc nhìn về vấn đề này, Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung cho rằng điều doanh nghiệp nhà nước cần nhất hiện nay không chỉ là thêm nguồn lực mà là một môi trường thể chế đủ thông thoáng để phát huy quyền tự chủ.

Theo ông, việc lựa chọn người đứng đầu doanh nghiệp rất quan trọng nhưng chưa phải yếu tố quyết định. Quan trọng hơn là phải lựa chọn đúng những doanh nghiệp có tiềm năng để tập trung đầu tư, đồng thời ban hành trước các cơ chế về thể chế, chính sách và nguồn lực thay vì vừa làm vừa tháo gỡ.

Ông lấy ví dụ từ những doanh nghiệp như Petrovietnam, Petrolimex hay Viettel - những đơn vị đã hình thành được nền tảng quản trị và có khả năng phát triển lên tầm cao hơn nếu được trao thêm quyền chủ động.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, quá trình thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước cũng cần được cải cách mạnh mẽ theo hướng quyết nhanh, chốt gọn. Nếu một chủ trương đầu tư phải mất vài năm để xin ý kiến, sau đó lại tiếp tục điều chỉnh nhiều lần thì cơ hội thị trường đã trôi qua. Chính sự chậm trễ đó đang làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh thị trường thay đổi rất nhanh.

Ông cũng nhấn mạnh, vấn đề lớn nhất hiện nay nằm ở cơ chế đại diện chủ sở hữu. Muốn doanh nghiệp nhà nước phát triển thì phải vượt qua tư duy trì trệ, xây dựng cơ chế minh bạch hơn và tạo điều kiện để người quản lý thực sự được trao quyền gắn với trách nhiệm.

"Dẫn chứng từ Viettel cho thấy khi doanh nghiệp có chung một sứ mệnh quốc gia, xây dựng được văn hóa doanh nghiệp và khơi dậy tinh thần cống hiến thì những rào cản về cơ chế đại diện cũng sẽ từng bước được khắc phục", Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung nhận định.

Để doanh nghiệp nhà nước mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mới thì điều quan trọng trước hết là phải phân biệt rõ giữa rủi ro thị trường với hành vi cố ý làm sai.

Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni

Bàn về quản trị doanh nghiệp, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh cho rằng để doanh nghiệp nhà nước mạnh dạn đầu tư vào những lĩnh vực mới thì điều quan trọng trước hết là phải phân biệt rõ giữa rủi ro thị trường với hành vi cố ý làm sai.

Theo ông, Chính phủ đã có những quy định nhằm bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, song muốn thực hiện được trên thực tế thì phải xây dựng một hệ thống đánh giá minh bạch dựa trên các chỉ số tài chính và phi tài chính, đánh giá theo danh mục đầu tư thay vì chỉ nhìn vào từng dự án riêng lẻ. Khi đó mới có thể xác định đâu là rủi ro khách quan của thị trường, đâu là vi phạm cần xử lý.

Để minh họa, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh nhắc lại câu chuyện Pacific Airlines sử dụng công cụ phòng ngừa rủi ro giá nhiên liệu nhiều năm trước. Mục tiêu ban đầu là bảo vệ tài sản của Nhà nước trước nguy cơ giá nhiên liệu tăng cao, nhưng khi thị trường diễn biến ngược lại, những người thực hiện lại bị xử lý. Theo ông, những bài học như vậy khiến nhiều lãnh đạo doanh nghiệp sau này lựa chọn phương án "không làm gì cả" để bảo đảm an toàn cho bản thân, thay vì sử dụng các công cụ quản trị rủi ro vốn rất phổ biến trên thế giới.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh, bên cạnh khung pháp lý, yếu tố con người cũng giữ vai trò quyết định. Ông cho rằng thành công của Viettel đến từ hai yếu tố nổi bật là đội ngũ lãnh đạo có bản lĩnh, dám làm và kỷ luật quân đội - yếu tố giúp người quản lý luôn đặt lợi ích quốc gia lên trên lợi ích cá nhân.

Tại phần trao đổi này, bà Nguyễn Thu Thủy cho biết thêm, nhiều nội dung mà các chuyên gia đề cập thực tế đã được thể chế hóa trong Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước mới.

Theo bà, doanh nghiệp hiện đã được trao quyền chủ động lớn hơn trong xây dựng chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, quyết định đầu tư, tổ chức bộ máy và chính sách tiền lương. Cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ tập trung vào những vấn đề mang tính chiến lược như mục tiêu phát triển, chỉ tiêu doanh thu, lợi nhuận, nghĩa vụ tài chính và các nhiệm vụ Nhà nước giao; còn việc lựa chọn dự án đầu tư, mua sắm, thoái vốn hay tổ chức thực hiện thuộc quyền quyết định của doanh nghiệp.

Đáng chú ý, pháp luật cũng đã có những quy định mới nhằm khuyến khích doanh nghiệp mạnh dạn đổi mới sáng tạo. Việc bảo toàn và phát triển vốn sẽ được xem xét trên cơ sở hiệu quả tổng thể của cả danh mục đầu tư; đồng thời các khoản đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo hay nhiệm vụ chính trị được tách riêng để đánh giá, không tính chung với hiệu quả sản xuất, kinh doanh thông thường. Theo bà Nguyễn Thu Thủy, đây là những bước đi ban đầu nhằm tạo thêm không gian để doanh nghiệp nhà nước yên tâm triển khai các dự án có tính đột phá, chấp nhận những rủi ro hợp lý trong quá trình đổi mới.

Trao quyền, đổi mới quản trị để doanh nghiệp nhà nước bứt phá

Tại tọa đàm, các diễn giả đều thống nhất rằng mục tiêu xây dựng doanh nghiệp nhà nước trở thành lực lượng dẫn dắt tăng trưởng không thể chỉ dừng ở việc tăng quy mô hay bổ sung nguồn lực. Điều quan trọng hơn là tạo dựng một môi trường thể chế đủ thông thoáng để doanh nghiệp phát huy quyền tự chủ, mạnh dạn đổi mới sáng tạo và chủ động cạnh tranh trên thị trường khu vực, quốc tế.

Trao đổi về việc Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp vừa được ban hành sẽ tạo ra những thay đổi như thế nào, bà Nguyễn Thu Thủy cho biết tinh thần xuyên suốt của luật là phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng của chủ sở hữu, đồng thời mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp.

Theo bà, khác với trước đây khi nhiều hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh phải xin ý kiến cơ quan đại diện chủ sở hữu, luật mới quy định rõ cơ quan đại diện chủ sở hữu chỉ quyết định những vấn đề mang tính chiến lược như mục tiêu phát triển, kế hoạch tổng thể, bảo toàn và phát triển vốn hay các nhiệm vụ Nhà nước giao. Các quyết định thuộc hoạt động sản xuất, kinh doanh hằng ngày, lựa chọn dự án đầu tư, tổ chức bộ máy, sử dụng vốn và nhân sự sẽ được giao nhiều hơn cho doanh nghiệp.

Đây được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý, từ tiền kiểm sang tăng cường hậu kiểm, qua đó giúp doanh nghiệp chủ động nắm bắt cơ hội thị trường, rút ngắn thời gian ra quyết định và nâng cao sức cạnh tranh.

Không chỉ mở rộng quyền tự chủ, luật cũng có nhiều quy định nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo bà Nguyễn Thu Thủy, hiệu quả đầu tư sẽ được xem xét trên tổng thể danh mục đầu tư, trong khi các khoản đầu tư phục vụ nghiên cứu khoa học, công nghệ hay thực hiện nhiệm vụ chính trị được đánh giá theo cơ chế riêng. Cách tiếp cận này giúp doanh nghiệp có thêm dư địa để thực hiện các dự án dài hạn, chấp nhận những rủi ro hợp lý trong quá trình đổi mới mà không quá lo ngại về trách nhiệm khi kết quả chưa đạt như kỳ vọng.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng cải cách thể chế chỉ phát huy hiệu quả khi đi cùng với sự thay đổi trong tư duy quản trị. Theo ông, doanh nghiệp nhà nước muốn trở thành doanh nghiệp dẫn dắt thì phải được vận hành theo cơ chế thị trường, có mục tiêu rõ ràng, quyền hạn đầy đủ và trách nhiệm tương xứng.

Ông nhấn mạnh, Nhà nước cần tập trung vào việc xác định chiến lược và tạo khuôn khổ phát triển, thay vì can thiệp quá sâu vào hoạt động điều hành. Khi doanh nghiệp đã được giao quyền thì cũng cần có cơ chế đánh giá minh bạch để khuyến khích những người dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng Việt Nam không thiếu những doanh nghiệp có tiềm năng trở thành các tập đoàn mang tầm khu vực. Điều quan trọng là phải tạo điều kiện để các doanh nghiệp này hình thành chuỗi giá trị, dẫn dắt mạng lưới doanh nghiệp trong nước cùng phát triển, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của cả nền kinh tế thay vì chỉ của từng doanh nghiệp riêng lẻ.

Đồng tình với quan điểm này, Tiến sĩ Nguyễn Tú Anh cho rằng trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, doanh nghiệp nhà nước cần tận dụng tốt những lợi thế sẵn có về nguồn lực, dữ liệu và thị trường để tạo ra những mô hình kinh doanh mới, ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ và trí tuệ nhân tạo, thay vì chỉ dựa vào các lĩnh vực kinh doanh truyền thống.

Theo ông, cùng với việc hoàn thiện cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, doanh nghiệp nhà nước cũng cần xây dựng đội ngũ lãnh đạo có tư duy đổi mới, có khát vọng vươn ra thị trường quốc tế và sẵn sàng chấp nhận những rủi ro hợp lý trong đầu tư, đổi mới sáng tạo. Khi đó, các lợi thế về quy mô, nguồn lực và vị thế của doanh nghiệp nhà nước mới có thể được chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh thực sự.

Khép lại chương trình, các diễn giả đều cho rằng mục tiêu xây dựng những doanh nghiệp nhà nước đủ sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới là hoàn toàn khả thi nếu quá trình hoàn thiện thể chế được triển khai đồng bộ với cải cách quản trị doanh nghiệp. Khi quyền tự chủ được mở rộng, trách nhiệm được xác định rõ ràng và đổi mới sáng tạo trở thành động lực phát triển, doanh nghiệp nhà nước sẽ có thêm điều kiện để phát huy vai trò tiên phong, dẫn dắt các chuỗi giá trị, tạo sức lan tỏa tới toàn bộ nền kinh tế và đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn phát triển mới.

2aoboqoc5yvf7j0girdsdx2yshnriqnnuntxoywu.jpg
Các diễn giả tham gia chụp ảnh lưu niệm với lãnh đạo, nhóm phóng viên, biên tập viên tại buổi toạ đàm.

Tại buổi toạ đàm, các diễn giả cũng dành thời gian để trao đổi một số nội dung mà báo chí quan tâm. Trong đó, nhiều câu hỏi tập trung vào việc triển khai Nghị quyết 79 và các cơ chế mới để doanh nghiệp nhà nước phát huy vai trò dẫn dắt. Bà Nguyễn Thu Thủy cho biết, Bộ Tài chính đang xây dựng danh mục doanh nghiệp nhà nước mạnh, quy mô lớn để trình Chính phủ trong năm 2026. Danh mục sẽ được xác định trên cơ sở các tiêu chí như quy mô, tiềm năng phát triển, thị phần và mức độ đóng góp của doanh nghiệp đối với các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

Đối với các cơ chế vượt trội và mô hình thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) trong những lĩnh vực mới như hàng không, không gian vũ trụ, bà Nguyễn Thu Thủy cho biết đây là nội dung thuộc phạm vi pháp luật chuyên ngành và sẽ được áp dụng cho cộng đồng doanh nghiệp nói chung. Trong khi đó, pháp luật về quản lý và đầu tư vốn nhà nước sẽ tiếp tục tập trung hoàn thiện cơ chế quản trị, tăng quyền tự chủ, tạo điều kiện để doanh nghiệp nhà nước chủ động hơn trong đầu tư, đổi mới sáng tạo và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược.

Trước câu hỏi về cơ chế thưởng đối với doanh nghiệp vượt kế hoạch, bà Nguyễn Thu Thủy cho biết Bộ Tài chính đang nghiên cứu theo tinh thần Nghị quyết 79 và Nghị quyết 29. Sau khi tổng kết việc thực hiện hệ thống pháp luật mới về quản lý và đầu tư vốn nhà nước, dự kiến cuối năm 2026 sẽ đánh giá để đề xuất cơ chế thưởng từ phần lợi nhuận vượt kế hoạch, tạo thêm động lực cho doanh nghiệp nâng cao hiệu quả hoạt động.

Có thể bạn quan tâm

Tại hội nghị đại lý, Vietravel Airlines đã chính thức ra mắt Tổng Đại lý khu vực phía nam Trung Quốc.

Vietravel Airlines chuẩn bị khai thác đường bay thẳng Thành phố Hồ Chí Minh-Thâm Quyến

Hãng hàng không Vietravel Airlines tổ chức thành công Hội nghị đại lý tại Thâm Quyến (Trung Quốc), với sự tham gia của hơn 100 đại lý, đối tác phân phối và khách mời tại thị trường này, đánh dấu bước chuẩn bị quan trọng trước khi chính thức đưa vào khai thác đường bay thẳng Thành phố Hồ Chí Minh-Thâm Quyến từ ngày 15/8 tới.

Việc đưa Không gian Văn hóa đọc ngành công thương vào hoạt động là một trong những giải pháp cụ thể để triển khai tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam,

Bộ Công thương hoàn thiện không gian văn hóa đọc ngành công thương

Việc đưa Không gian văn hóa đọc vào hoạt động góp phần cụ thể hóa các chủ trương của Đảng về phát triển văn hóa và xây dựng xã hội học tập, thể hiện sự quan tâm của Bộ Công thương trong việc xây dựng môi trường làm việc văn minh, hiện đại, lấy tri thức làm nền tảng cho đổi mới, sáng tạo và nâng cao chất lượng thực thi công vụ.

Tại hội nghị, lãnh đạo tỉnh Nghệ An đã trao Quyết định đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và Biên bản ghi nhớ thỏa thuận hợp tác đầu tư cho 25 dự án tiêu biểu.

Khơi thông động lực, sớm đưa Nghệ An trở thành cực tăng trưởng tầm quốc gia

Sáng 31/7, tỉnh Nghệ An tổ chức Hội nghị công bố điều chỉnh quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 và xúc tiến đầu tư. Với chủ đề “Nghệ An - hiện thực hoá khát vọng phát triển”, đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Nghệ An nói riêng và khu vực Bắc Trung bộ nói chung.

(Ảnh minh họa: THANH XUÂN)

Tận dụng dư địa các FTA cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Với mạng lưới 17 hiệp định thương mại tự do đang thực thi, Việt Nam đã có trong tay những “đường cao tốc” kết nối với phần lớn nền kinh tế thế giới. Nhưng để xuất khẩu thực sự trở thành động lực cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của giai đoạn phát triển mới, dư địa ưu đãi từ các FTA thế hệ mới cần được biến thành giá trị thật.

Vietjet tiếp tục mở rộng mạng bay quốc tế, đầu tư dài hạn vào đội tàu hơn 600 tàu bay thế hệ mới và phát triển hệ sinh thái hàng không đồng bộ.

Vietjet bứt phá mạng bay quốc tế, đặt hàng hơn 600 máy bay và hoàn chỉnh hệ sinh thái hàng không

Động lực tăng trưởng của Vietjet đến từ mạng bay quốc tế tiếp tục mở rộng, chiến lược đầu tư dài hạn vào đội tàu hơn 600 tàu bay thế hệ mới và phát triển hệ sinh thái hàng không đồng bộ, gồm vận tải hành khách, dịch vụ mặt đất, vận tải hàng hóa, đào tạo, kỹ thuật, tài chính và công nghệ.

Vietcombank tiếp tục là thương hiệu ngân hàng giá trị nhất Việt Nam năm 2026, với giá trị thương hiệu đạt hơn 2,5 tỷ USD. (Nguồn: Brand Finance Vietnam 100 2026)

Vietcombank vào tốp 3 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam, tiếp tục dẫn đầu ngành ngân hàng

Theo Brand Finance, thế mạnh trong thanh toán xuyên biên giới, kinh doanh ngoại hối và tài trợ chuỗi cung ứng, cùng uy tín với khách hàng tổ chức và vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, đã củng cố vị thế Vietcombank là thương hiệu ngân hàng cao cấp, an toàn và có mức độ rủi ro thấp nhất thị trường.

Sản xuất hàng xuất khẩu tại Tổng công ty May 10. (Ảnh: ĐĂNG ANH)

Ngành dệt may linh hoạt ứng phó trước biến động thị trường

Những biến động khó lường của nền kinh tế thế giới, nhất là xung đột quân sự giữa Mỹ và Iran đang leo thang khiến rủi ro vận chuyển kéo dài, đẩy giá nguyên, nhiên liệu và chi phí logistics tăng cao... Điều này không chỉ tạo áp lực lớn mà còn làm xói mòn biên lợi nhuận của doanh nghiệp, trong đó có các đơn vị ngành dệt may.

 [Video] Ấn Độ chính thức “mở cửa” thị trường đối với sầu riêng tươi của Việt Nam

[Video] Ấn Độ chính thức “mở cửa” thị trường đối với sầu riêng tươi của Việt Nam

Thông tin từ Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chiều 30/7 cho biết Chính phủ Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu quả sầu riêng tươi của Việt Nam để tiêu dùng, mở thêm một thị trường xuất khẩu mới cho ngành hàng sầu riêng Việt Nam và góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại nông sản giữa hai nước.

Lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh trao giấy chứng nhận vườn vải đẹp cho các chủ vườn tại Hội nghị tổng kết sản xuất, tiêu thụ vải thiều năm 2026.

Vụ vải thiều Bắc Ninh năm 2026: Sản lượng giảm, giá cao kỷ lục

Năm 2026, vụ vải thiều tỉnh Bắc Ninh có sản lượng giảm sâu so với năm 2025, nhưng chất lượng quả được nâng lên rõ rệt, giá bán bình quân đạt mức cao nhất từ trước đến nay. Thị trường trong nước mở rộng, xuất khẩu duy trì ổn định tại thị trường truyền thống và từng bước phát triển sang các thị trường giá trị cao.

Sầu riêng tươi của Việt Nam chính thức được mở cửa vào thị trường Ấn Độ.

Ấn Độ chính thức mở cửa thị trường đối với sầu riêng tươi của Việt Nam

Theo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Chính phủ Ấn Độ đã chính thức cho phép nhập khẩu quả sầu riêng tươi của Việt Nam để tiêu dùng, mở thêm một thị trường xuất khẩu mới cho ngành hàng sầu riêng Việt Nam và góp phần thúc đẩy quan hệ thương mại nông sản giữa hai nước.

Cảng hàng không quốc tế Long Thành (Đồng Nai). (Ảnh: Báo Nhân Dân)

Xây dựng lộ trình 3 bước đưa Cảng hàng không quốc tế Long Thành vào vận hành thương mại

Nhằm bảo đảm tính liên tục, an toàn và hạn chế tối đa những xáo trộn trong hạ tầng hàng không khu vực phía nam, Cục Hàng không Việt Nam đã thống nhất phương án chuyển đổi khai thác giữa Cảng hàng không quốc tế Long Thành và Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất theo lộ trình 3 bước cụ thể, dự tính bắt đầu từ cuối năm 2026.