Tình yêu nghệ thuật truyền thống luôn tuôn chảy

Nhà viết kịch Lê Thế Song (trong ảnh) đang là “hiện tượng” của sân khấu truyền thống khi sở hữu cả “gia tài” kịch bản được dàn dựng.

Tình yêu nghệ thuật truyền thống luôn tuôn chảy

Sinh ra từ làng Ngò, huyện Lý Nhân, nơi vốn là chiếu chèo nức tiếng đất Hà Nam từng được dân gian nhắc đến với câu “Rượu Bèo, chèo Ngò”, ngay từ nhỏ anh đã được nuôi dưỡng trong những làn điệu chèo ngọt ngào, đằm thắm. Khi trưởng thành, cơ duyên đến với nghệ thuật truyền thống đã được chắp cánh khi anh gặp gỡ, kết duyên cùng “con nhà nòi” sân khấu-nghệ sĩ Xuân Hồng, con gái nhà viết kịch Hoàng Luyện. Gần 20 năm rong ruổi cùng vợ thực hiện những dự án truyền thông nghệ thuật cộng đồng cho các tổ chức phi chính phủ trong vai trò vừa là biên kịch, đạo diễn, biên đạo ở khắp các vùng miền trên đất nước đã giúp anh làm giàu hơn vốn sống, trải nghiệm với di sản văn hóa ở từng mảnh đất đi qua, và rồi càng yêu, càng gắn bó với những làn điệu dân ca, sân khấu dân tộc.

Năm 2011, vợ chồng anh quyết định theo học bốn năm Khóa Biên kịch Kịch hát dân tộc tại Trường đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, tiếp đó là ba năm Thạc sĩ biên kịch. Những kỹ năng, phương pháp sáng tác chuyên nghiệp cộng với vốn văn hóa và kiến thức thực tế phong phú đã làm nên chất liệu sáng tác giàu có nơi Lê Thế Song.

Kể từ kịch bản khởi nghiệp “Nam mô Thích Ca Mâu Ni Phật” được Nhà hát Chèo Việt Nam dàn dựng năm 2015 đến nay, nhà viết kịch Lê Thế Song đã có khoảng 45 kịch bản ở nhiều thể loại tuồng, chèo, cải lương được gần 20 đơn vị nghệ thuật trên cả nước lựa chọn dàn dựng. Bên cạnh sáng tác, anh còn rất có duyên trong chuyển thể kịch bản văn học sang kịch bản sân khấu. Lê Thế Song đang là gương mặt tác giả “đắt sô” được nhiều nhà hát “chọn mặt gửi vàng”. Điển hình như tại Liên hoan Chèo toàn quốc năm 2019, trong tổng số 24 vở diễn dự thi, có tới gần 10 vở Lê Thế Song đứng tên tác giả, kịch bản.

Năm 2021, dù diễn biến dịch phức tạp tác động nặng nề tới sân khấu, anh vẫn có bốn kịch bản được dàn dựng là: “Nguyễn Văn Cừ” (Nhà hát Chèo Quân đội), “Thượng thiên Thánh Mẫu” (Nhà hát Cải lương Việt Nam, Liên đoàn Xiếc Việt Nam), “Cây gậy thần” (kịch bản văn học của tác giả Hoàng Luyện-Nhà hát Chèo Thái Bình), chuyển thể “Người mẹ Hà thành” (Nhà hát Chèo Hà Nội)... Nhiều vở diễn như cải lương “Dâu bể kiếp tằm”, “Kiếp tằm”; vở chèo “Giai điệu Tổ quốc”, “Gò đống mối”... do anh viết và chuyển thể đã giành được giải thưởng cao tại các liên hoan, hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc.

Nói về phương thức sáng tạo, tác giả Lê Thế Song cho hay nếu người viết hiện đại cứ lệ thuộc vào những trình thức, lề lối cổ của kịch hát dân tộc sẽ dễ khiến vở diễn lê thê, thiếu tính thời đại, nhưng nếu bỏ qua những lề lối này lại khiến tác phẩm sân khấu truyền thống bị kịch hóa. Vì thế, cái khó của người sáng tác là phải biết kế thừa và sáng tạo để tác phẩm vẫn giữ được nét đẹp sân khấu truyền thống mà vẫn mới mẻ, mang hơi thở cuộc sống hôm nay. “Mỗi loại hình kịch hát dân tộc có cách thể hiện khác nhau, trong đó chèo mang tính thuần Việt nhất, cải lương lại có thể tiếp thu nhiều loại hình nghệ thuật, song điểm chung là đều sử dụng ngôn ngữ biền ngẫu nên đòi hỏi người viết phải có tư duy thơ và hiểu về làn điệu của từng loại hình. Nếu cải lương có khoảng 100 làn điệu, tuồng có khoảng 60 đến 70 làn điệu thì chèo có khoảng 200 làn điệu.

Người viết phải biết được sự khác biệt giữa điệu Đào liễu, Quân tử vu dịch, Luyện năm cung... trong chèo, những điệu Lý, Vọng cổ... trong cải lương hay văn đối tỉ trong tuồng mới có thể soạn lời cho các vở diễn ở từng loại hình”-nhà viết kịch Lê Thế Song chia sẻ. Thách thức là thế nhưng anh xác định sân khấu truyền thống là duyên, cũng là nghiệp của đời mình bởi trong cuộc sống hôm nay không còn nhiều người mặn mà với kịch hát dân tộc. Đây là trăn trở, cũng là động lực để anh cố gắng đưa sân khấu truyền thống của cha ông đến gần hơn với công chúng hiện đại.

Là người viết cho sân khấu dân tộc, Lê Thế Song không cho phép mình đứng ngoài dòng chảy thời sự, nhất là trước những vấn đề lớn lao của đất nước. Đó là lý do hai năm qua, anh đã cần mẫn soạn lời cho gần 40 bài hát theo các làn điệu chèo, cải lương, quan họ với chủ đề phòng, chống dịch Covid-19. Những ca khúc như “Bắc Ninh-Bắc Giang, niềm tin chiến thắng”, “Chặn dịch kiên cường thành phố yêu thương”, “Thành phố nghĩa tình căng mình chống dịch”, “Gửi anh người lính biên phòng”, “Hãy đợi em về”, “Ngày về chiến thắng”, “Khúc hoan ca chiến thắng Corona”, “Mệnh lệnh từ trái tim”, “Tình anh người chiến sĩ”... được chia sẻ, lan tỏa bởi nhiều giọng ca nổi tiếng như NSND Tự Long, NSND Thúy Ngần, NSND Thanh Tuấn, NSND Khắc Tư, NSƯT Diệu Hằng, NSƯT Hoàng Tùng... Anh đã được trao ba giải trong Cuộc thi Bình chọn các sản phẩm bản ghi âm, ghi hình về nghệ thuật biểu diễn tuyên truyền phòng, chống dịch Covid-19 do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức năm 2021; và giải A cuộc thi sáng tác đề tài phòng, chống Covid-19 của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam...

Chia sẻ về kế hoạch sáng tác năm 2022, nhà viết kịch Lê Thế Song cho biết, anh đang thực hiện kịch bản về Tổng Bí thư Trường-Chinh cho Nhà hát Chèo Nam Định, về huyền tích chùa Am Vãi cho Nhà hát Chèo Bắc Giang. Đoàn Nghệ thuật Quảng Ninh, Đoàn Cải lương Long An cũng đang đặt anh sáng tác kịch bản. Anh còn ấp ủ một số kịch bản về các di tích, danh thắng nổi tiếng của đất nước.

Có thể bạn quan tâm

Bà Phan Cẩm Tú (thứ 3 từ trái sang) tại buổi tọa đàm về bản quyền do Báo Nhân Dân tổ chức. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền tác giả: Nỗi niềm người làm điện ảnh

Là người có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền điện ảnh, bà Phan Cẩm Tú (Ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội Xúc tiến phát triển điện ảnh Việt Nam, chuyên gia tư vấn, Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ) chia sẻ những nỗi niềm của những người làm sáng tạo trước thực trạng vi phạm bản quyền hiện nay.

Du khách tham quan nhà người Hà Nhì tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh: THANH DUNG)

Giữ gốc, nối nghề trong nhịp sống số

Trước nguồn nguyên vật liệu tự nhiên khan hiếm, đội ngũ thợ am hiểu kỹ thuật dựng nhà ngày càng thưa vắng, nhiều ngôi nhà truyền thống của các dân tộc thiểu số ở nước ta đã không còn giữ được hình thái ban đầu… 

Quần thể di tích Cố đô Huế, không gian di sản tiêu biểu trong hành trình “Hộ chiếu du lịch”. (Ảnh: Sở Du lịch thành phố Huế)

Đổi mới cách tiếp cận di sản

Bảo vệ và phát huy giá trị di sản không chỉ là gìn giữ nguyên trạng, mà còn đòi hỏi những phương thức tiếp cận phù hợp với bối cảnh mới.

Đại diện lãnh đạo thành phố Hà Nội trao Bằng công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố cho di tích Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn.

Hà Nội trao bằng xếp hạng cấp thành phố cho di tích văn hóa lịch sử làng La Xuyên, xã Cổ Đô

Nhân dân thôn La Xuyên, xã Cổ Đô, thành phố Hà Nội vừa tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa cấp thành phố Nhà thờ họ Hoàng và Công bộ Viên ngoại lang Hoàng Viết Bàn. Buổi lễ có sự tham dự của đại diện lãnh đạo Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Sở Dân tộc và Tôn giáo, Sở Nội vụ Hà Nội.

Bìa tác phẩm "Đời như tiểu thuyết" của tác giả Trương Đức Minh Tứ.

Những phận người không hư cấu trong Đời như tiểu thuyết

"Đời như tiểu thuyết" của Trương Đức Minh Tứ không phải là cuốn sách để tìm một cốt truyện theo nghĩa thông thường. Ở đó là những con người cụ thể, những đời sống đã diễn ra, với đủ biến cố, chia ly, lựa chọn, day dứt, hy sinh và cả những cuộc kiếm tìm kéo dài đến tận cuối đời. 

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh cùng đông đảo cựu chiến binh, chiến sĩ Điện Biên tham quan triển lãm "Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại".

Đặc sắc triển lãm “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại” tại Điện Biên

Nhân kỷ niệm 72 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/2026), Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ (Điện Biên) tổ chức trưng bày, triển lãm 28 tác phẩm ký họa tiêu biểu về Chiến dịch Điện Biên Phủ của các họa sĩ Ngô Mạnh Lân, Phạm Thanh Tâm và Dương Hướng Minh với chủ đề “Từ ký họa chiến trường đến sắc màu đương đại”.

Nghệ nhân Nguyễn Công Đạt thực hiện in liễn làng Chuồn trong không gian Ngự Hà Viên, Huế. (Ảnh: MẠNH HÀO)

Những di sản sống của làng nghề

Có những làng nghề không mất đi hẳn nhưng lặng lẽ rút khỏi đời sống, chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già hay trong những dấu vết mờ nhạt đâu đó.

Trần Ngọc Vàng và nghệ sĩ Thanh Thủy trong phim. (Ảnh: Galaxy Studio)

“Heo Năm Móng” đạt top 1 phòng vé điện ảnh mùa lễ 30/4

“Heo Năm Móng” nhanh chóng trở thành hiện tượng trên các diễn đàn điện ảnh và mạng xã hội, không chỉ nhờ chiến lược truyền thông hiệu quả, mà còn bởi hiệu ứng lan tỏa sau công chiếu. Sau 6 ngày ra mắt, phim chạm mốc 50 tỷ đồng, trở thành phim có doanh thu Top 1 phòng vé trong thời điểm ra mắt.

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

Giá trị văn hóa từ "Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại.