Thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong doanh nghiệp

Từ các nghị quyết chiến lược như Nghị quyết 52-NQ/TW về cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Nghị quyết 57-NQ/TW về phát triển khoa học công nghệ, đến hàng loạt các chương trình quốc gia khác đang thực sự tạo nên những luồng sinh khí mới.

Hoạt động nghiên cứu tại Công ty Cổ phần MISA.
Hoạt động nghiên cứu tại Công ty Cổ phần MISA.

Tuy nhiên, để sớm đạt mục tiêu đặt ra, đang rất cần những giải pháp thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp trong việc tiếp cận khoa học công nghệ, chuyển đổi số và vốn.

Những rào cản

Ông Lê Bộ Lĩnh, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cho biết, có hai rào cản của doanh nghiệp làm khoa học-công nghệ, chuyển đổi số đó là tài chính của bản thân các doanh nghiệp rất hạn chế và cơ chế tài chính, những thiết chế tài chính để hỗ trợ cho các hoạt động đổi mới sáng tạo và hoạt động ứng dụng khoa học-công nghệ còn khó khăn.

Tập đoàn BKAV là một thí dụ, khi từ một nhóm nhỏ nghiên cứu phần mềm miễn phí, đến nay đã đầu tư hàng nghìn tỷ đồng vào các sản phẩm công nghệ cao như điện thoại thông minh Bphone, phần mềm diệt virus, hệ thống an ninh mạng...

Những sản phẩm này có hàm lượng chất xám lớn, được nghiên cứu bài bản và mang đậm dấu ấn trí tuệ Việt Nam. Tuy nhiên, dù rất nỗ lực và chủ động, vẫn gặp khó khăn nghiêm trọng về vốn khi chuyển sang giai đoạn thương mại hóa và mở rộng thị trường.

Ở Việt Nam, Quỹ Đổi mới Công nghệ quốc gia sau gần 19 năm hoạt động mới chỉ giải ngân được khoảng 200 triệu USD-trung bình mỗi năm khoảng 10 triệu USD- một con số quá nhỏ so với nhu cầu thực tế và so với những gì các quốc gia khác đang làm.

(Ông Nguyễn Tử Quảng, Chủ tịch Tập đoàn BKAV)

Ông Nguyễn Tử Quảng, Chủ tịch Tập đoàn BKAV phân tích, vấn đề nằm ở việc đầu tư cho khoa học-công nghệ không bao giờ là đủ. Một doanh nghiệp đơn lẻ, dù tâm huyết đến đâu, cũng không thể "ôm trọn" chuỗi đầu tư từ nghiên cứu-sản xuất-thương mại hóa-mở rộng thị trường.

Đây phải là cuộc chơi của cả hệ thống, cả xã hội, như cách mà các quốc gia đi trước đã thực hiện. Dẫn chứng tại Trung Quốc cho thấy, trong khoảng 15 năm qua, Trung Quốc đã xây dựng thành công một hệ thống quỹ hỗ trợ khoa học-công nghệ cực kỳ mạnh mẽ. Có thể kể đến hai quỹ lớn: Quỹ bảo hiểm công nghệ, giải ngân trung bình 100 tỷ USD/năm và Quỹ bảo lãnh quốc gia cũng giải ngân quy mô tương tự.

Chính nhờ các quỹ này, hàng triệu doanh nghiệp công nghệ của Trung Quốc đã được hỗ trợ từ giai đoạn chưa có sản phẩm đến lúc mở rộng quy mô, chiếm lĩnh thị trường toàn cầu.

Trong khi đó, ở Việt Nam, Quỹ Đổi mới Công nghệ quốc gia sau gần 19 năm hoạt động mới chỉ giải ngân được khoảng 200 triệu USD-trung bình mỗi năm khoảng 10 triệu USD- một con số quá nhỏ so với nhu cầu thực tế và so với những gì các quốc gia khác đang làm.

Không dừng lại ở đó, cơ chế quỹ còn quá thận trọng khi hiện nay, phần lớn quỹ chỉ tài trợ không hoàn lại, hoặc nếu có cho vay thì không có cơ chế bảo lãnh, dẫn đến tình trạng vốn không đến được đúng lúc doanh nghiệp cần nhất.

Do đó, nếu chỉ dùng quỹ theo kiểu cấp phát thì số tiền đó chỉ phát huy hiệu lực một lần. Nhưng nếu quỹ được tổ chức và vận hành như một thiết chế tài chính-có cơ chế huy động, cho vay, đầu tư sinh lời, tái đầu tư thì mỗi đồng vốn ban đầu có thể tạo ra giá trị gấp nhiều lần.

“Một đồng tiền để không thì nó chỉ là một đồng thôi. Nhưng nếu mà nó vận hành như một thiết chế tài chính thì nó có thể làm ra rất nhiều đồng tiền khác", ông Lê Bộ Lĩnh chia sẻ.

Bên cạnh đó, cơ chế định giá tài sản vô hình còn thiếu, trong khi các tài sản của các doanh nghiệp công nghệ phần lớn là sở hữu trí tuệ, phần mềm, công nghệ lõi đều là những thứ không thể định giá theo "tài sản hữu hình".

Các ngân hàng luôn yêu cầu khách hàng phải có tài sản thế chấp, nhưng các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo không có bất động sản để thế chấp và quy định hiện hành vẫn thiếu cụ thể trong việc cho phép dùng tài sản vô hình làm cơ sở vay vốn.

Thiết kế lại hệ sinh thái cho doanh nghiệp sáng tạo

Theo bà Nguyễn Thị Bích Lan-Viện trưởng Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, một thí dụ điển hình về cách tiếp cận vốn hiệu quả trong hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đổi mới sáng tạo có thể thấy rõ ở Singapore.

Tại đảo quốc này, mỗi doanh nghiệp khi triển khai hoạt động chuyển đổi số hoặc đổi mới công nghệ nhà nước sẽ cho một khoản tiền và huy động các doanh nghiệp lớn cho hạ tầng theo mô hình nhà nước 70%, doanh nghiệp lớn 30%.

Các công ty lớn không chỉ góp vốn, mà còn trực tiếp cung cấp hạ tầng công nghệ, nền tảng số, tài nguyên dữ liệu, và cả chuyên gia cố vấn để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ hơn triển khai sản phẩm công nghệ mới.

Điều đặc biệt là Singapore không chỉ hỗ trợ về tài chính hay kỹ thuật, mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ được thử nghiệm sản phẩm trên chính hạ tầng của các doanh nghiệp lớn. Nếu sản phẩm chứng minh được hiệu quả, họ sẽ tiếp tục nhận được hỗ trợ về xúc tiến thương mại, truyền thông và tiếp cận thị trường trong nước lẫn quốc tế.

Mô hình này tạo ra một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo liền mạch, trong đó các doanh nghiệp nhỏ không đơn độc trên hành trình chuyển đổi số, mà được "nâng đỡ có trách nhiệm" từ cả nhà nước và khối tư nhân.

Singapore không chỉ hỗ trợ về tài chính hay kỹ thuật, mà còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ được thử nghiệm sản phẩm trên chính hạ tầng của các doanh nghiệp lớn. Nếu sản phẩm chứng minh được hiệu quả, họ sẽ tiếp tục nhận được hỗ trợ về xúc tiến thương mại, truyền thông và tiếp cận thị trường trong nước lẫn quốc tế.

(Bà Nguyễn Thị Bích Lan-Viện trưởng Viện Sáng tạo và Chuyển đổi số, Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam)

Còn theo ông Nguyễn Tử Quảng, cần thiết lập quỹ bảo lãnh cấp quốc gia có quy mô đủ để hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ trong giai đoạn đã có sản phẩm nhưng thiếu vốn để thương mại hóa và mở rộng.

Quỹ này không chỉ cho vay mà còn bảo lãnh vay vốn tại các ngân hàng thương mại, giúp khơi thông dòng vốn xã hội vào lĩnh vực rủi ro cao nhưng cần thiết này. Cần có hướng dẫn chi tiết hơn trong việc định giá tài sản vô hình, đồng thời tạo hành lang pháp lý để các ngân hàng thương mại đủ tin tưởng.

Ông Hoàng Hữu Hạnh, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, một trong những giải pháp trọng tâm nhằm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc tiếp cận khoa học-công nghệ, chuyển đổi số và vốn là xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất, có sự liên kết chặt chẽ giữa ba nhà: doanh nghiệp-nhà trường-nhà nước.

Trên thực tế, khoảng 90% số doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp khó khăn lớn trong tiếp cận công nghệ mới và nguồn vốn đầu tư. Chính vì vậy, các chính sách cần được thiết kế linh hoạt, sát thực tiễn, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo bằng cách đầu tư vào hạ tầng nghiên cứu dùng chung, hỗ trợ tài chính cho các nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng quy mô nhỏ, đồng thời ưu tiên đầu tư trọng điểm cho một số trường đại học, viện nghiên cứu có năng lực kết nối với doanh nghiệp địa phương.

Bên cạnh đó, việc khuyến khích các doanh nghiệp lớn tham gia chia sẻ nền tảng nghiên cứu và chuỗi giá trị đổi mới với doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ tạo ra "cú huých" chuyển đổi hệ thống. Mô hình hợp tác kiểu này đang được một số tập đoàn tiên phong triển khai và có thể trở thành giải pháp nhân rộng.

Về phía các trường đại học, cần định hướng rõ nhiệm vụ nghiên cứu ứng dụng, giải quyết trực tiếp bài toán sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ, thay vì chỉ dừng ở nghiên cứu lý thuyết.

Khi từng mắt xích trong hệ sinh thái được kết nối, được "kích hoạt" đúng vai trò, doanh nghiệp vừa và nhỏ mới thật sự có cơ hội tiếp cận công nghệ, đổi mới sáng tạo và vượt qua các rào cản về vốn, nhân lực và hạ tầng.

Có thể bạn quan tâm

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Đào tạo an ninh mạng tại CyRadar giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực phòng thủ.

Tăng năng lực phòng vệ của doanh nghiệp

Chuyển đổi số đang mở ra nhiều cơ hội tăng trưởng cho doanh nghiệp Việt Nam nhưng cũng kéo theo những rủi ro an ninh mạng phức tạp. Khi dữ liệu trở thành tài sản chiến lược, khả năng bảo vệ hệ thống và thông tin không còn là vấn đề kỹ thuật mà trở thành năng lực phòng vệ quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Hoạt động nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ Lọc, Hóa dầu (Viện Hóa học công nghiệp Việt Nam).

Đầu tư hạ tầng nghiên cứu cho công nghệ chiến lược

Phát triển hệ thống phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia là một trong những giải pháp để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo theo Nghị quyết 57-NQ/TW. Thực trạng lạc hậu về công nghệ đặt ra yêu cầu cấp thiết phải tổ chức lại hạ tầng nghiên cứu theo hướng tập trung, đồng bộ và hiệu quả.

Phòng An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Đà Nẵng đấu tranh tội phạm trên không gian mạng. (Ảnh: Công Vinh)

Nâng cao ý thức làm chủ, bảo vệ không gian mạng

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định chủ trương của Đảng về bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới, khi nhấn mạnh yêu cầu: Tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng...

UAV được thử nghiệm phun thuốc cho cây cà-phê tại xã Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.

Cơ chế sandbox đã sang giai đoạn triển khai thực tế

Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, bên cạnh chuẩn bị cấp phép mô hình thử nghiệm có kiểm soát đầu tiên về phát triển kinh tế tầm thấp, ứng dụng phương tiện bay không người lái (UAV) tại tỉnh Điện Biên, một số địa phương, doanh nghiệp cũng bày tỏ quan tâm đến việc triển khai thử nghiệm mô hình sandbox.

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Định vị vị thế Việt Nam trên bản đồ sở hữu trí tuệ toàn cầu

Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. Những năm qua, Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực.

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Bảo đảm pháp lý khi chuyển chất xám trí tuệ thành dòng vốn trên thị trường

Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2025 được thông qua cho thấy những vấn đề pháp lý sở hữu trí tuệ đã được điều chỉnh gần và sát thực tiễn hiện nay. Trong đó, việc định giá tài sản sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm đang là nội dung thu hút sự quan tâm của đông đảo dư luận, nhất là với giới khởi nghiệp liên quan đổi mới sáng tạo.