Tháng Bảy, tôi về thăm ông

Sáng tháng Bảy, tôi đưa con gái vào Nghĩa trang Mai Dịch thắp hương cho ông ngoại. Con bé ôm bó huệ trắng, cẩn thận châm từng nén hương rồi đứng rất lâu trước tấm bia đá. Trên tấm bia chỉ vài dòng ngắn ngủi: Tên ông, đơn vị Tây Tiến, năm hy sinh 1946. Chỉ vậy thôi. Con gái ngước lên hỏi: “Sao con chưa bao giờ được nhìn thấy ảnh cụ?”. Tôi mỉm cười mà thấy mắt mình cay.

Không riêng con bé, cả mẹ tôi và anh em chúng tôi cũng chưa một lần biết gương mặt ông. Ông hy sinh khi mẹ tôi mới tròn ba tuổi. Những ký ức ít ỏi của một đứa trẻ chưa đủ để ghép thành khuôn mặt của cha. Trong ngôi nhà nhỏ của chúng tôi, mỗi lần quây quần ngày giỗ ông, cũng đúng vào ngày Ba mươi Tết, những đứa cháu ngoại chúng tôi nhìn nhau rồi hỏi vui: “Không biết đứa nào giống ông ngoại nhất nhỉ?”. Một câu hỏi chẳng ai trả lời được, bởi gia đình không có một di ảnh của người đã khuất.

Ông ngoại tôi là một chiến sĩ cảm tử quân Hà Nội. Cụ ngoại tôi kể, trước ngày đi theo lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến mùa đông năm 1946, ông chỉ xin mẹ mình may thêm một bộ quần áo mới. Cụ ngoại đâu ngờ đó lại là bộ quần áo cuối cùng ông mặc. Đêm ấy ông không trở về. Sáng hôm sau, người làng báo tin ông đã theo đội quân cảm tử. Thế là người thanh niên của làng Mai Dịch lặng lẽ rời ngôi nhà có vườn hoa huệ trắng, bỏ lại người vợ trẻ và đứa con lên ba để đi giữ thành Hà Nội.

Tuổi thơ tôi lớn lên trong những câu chuyện của cụ ngoại. Cụ kể về luống hoa huệ thơm ngát, những gánh cốm, gánh rau vườn nhà theo chân cụ và các bà (em ruột ông ngoại tôi) đi qua làng Nghĩa Đô, lên chợ Bưởi, có hôm đi bộ tận chợ Bắc Qua để bán. Dưới những ruộng rau, luống hoa bình yên ấy lại là những căn hầm bí mật nuôi giấu cán bộ cách mạng. Bọn tay sai của thực dân Pháp rất tinh quái, cứ thấy nhà nào sáng ngủ muộn là nghi đêm trước đi làm Việt Minh, bắt về đình tra khảo.

Vì thế, dù hoạt động suốt đêm, sáng nào các bà cũng ra đồng từ tinh mơ, tay vẫn trồng lúa, trồng rau như chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Ông ngoại tôi bị thương trong một trận đánh ở khu Nhà Tiền, nay là phố Nguyễn Thái Học. Đồng đội đưa ông xuống thuyền, xuôi theo sông Hồng sang bờ bên kia chữa trị. Vết thương không quá nặng, nhưng giữa những ngày thuốc men cạn kiệt, người chiến sĩ trẻ đã không thể trở về. Nỗi đau ấy chưa kịp nguôi thì người em trai của ông lại tiếp tục lên An toàn khu kháng chiến tại Thái Nguyên hoạt động cách mạng. Mỗi lần đi thăm con, cụ ngoại lại dành dụm tiền bán rau, bán hoa, làm cốm rồi lầm lũi đi bộ từ Hà Nội lên An toàn khu. Con đường dài đến mức đôi dép rơm mòn đi, nhưng chưa bao giờ cụ chùn bước. Đến ngày Hà Nội giải phóng, cụ ra tận đầu làng ngóng đoàn quân trở về. Người con trai út đã trở về, còn người con trai cả mãi mãi nằm lại với Thủ đô đều ở trong niềm hãnh diện và tự hào của cả gia đình.

Nghĩa trang Mai Dịch những ngày hướng tới 27/7 đông hơn thường lệ. Những đoàn người nối nhau vào viếng. Các em sinh viên mấy trường đại học gần đó lặng lẽ chăm sóc từng mộ phần. Tôi nắm tay con đi chậm qua từng dãy mộ. Quanh mộ ông ngoại là những người lính Hà Nội đến từ làng Ngọc Hà, làng Mơ, Mai Động, Bưởi... Họ đa phần còn rất trẻ. Và vẫn còn đó những tấm bia chỉ khắc mấy dòng chữ ngắn ngủi: “Liệt sĩ chưa xác định được thông tin”.

Tôi và con gái dừng lại, thắp cho mỗi ngôi mộ một nén hương. Con bé khẽ hỏi: “Gia đình các ông có biết các ông nằm ở đây không mẹ?”. Tôi không trả lời được. Tôi chỉ bảo con rằng, biết đâu trong số những người lính chưa có tên ấy có người đã từng chiến đấu bên cạnh ông ngoại. Họ cũng từng có một người mẹ đứng ngóng ở đầu làng, có một người vợ ôm con chờ mãi, có một đứa trẻ lên ba chưa kịp gọi một tiếng “cha”. Chỉ khác rằng, đến hôm nay, gia đình họ vẫn chưa biết chính xác người thân mình đang nằm ở đâu.

Mỗi dịp 27/7, vào nghĩa trang thăm ông, một nén hương không chỉ là sự tri ân dành cho ông ngoại, mà còn là lời hứa của những người đang sống sẽ không quên những người đã ngã xuống. Chừng nào mỗi tháng Bảy vẫn còn có những bước chân tìm về, chừng đó những người lính Hà Nội năm xưa vẫn chưa bao giờ rời khỏi ký ức của thành phố này.

Có thể bạn quan tâm

Người dân đến viếng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Vị Xuyên. Ảnh: MINH LÊ

Đầu nguồn dòng Lô xanh

Mỗi năm, cứ khi tháng Bảy chạm ngõ, lòng tôi lại hướng về dải đất biên cương ấy, nơi có một dòng sông từng mang màu đỏ máu và một người bạn lặng lẽ ươm mầm xanh cho rừng.

Hai người cán bộ an ninh

Chúng tôi gặp nhau trong một sự tình cờ. Tôi ngồi với bạn. Anh Ngô Đức Lý cùng đồng đội ăn bữa cơm liên hoan tầng trên. Ở cùng một nơi. Gặp nhau, và dần trở thành thương mến.

Người đàn bà quét ngõ

Mỗi buổi sáng, trước khi phố kịp tỉnh hẳn, dưới chân tòa nhà tôi ở đã có tiếng chổi quét đều đều. Tiếng chổi ấy nghe nhỏ thôi, nhưng hình như đang giữ lại chút thể diện cuối cùng cho con ngõ.

Phía ngoài cánh cổng trường thi

Sáng cuối cùng của kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10, Hà Nội đã nắng từ rất sớm. Trước một điểm thi ở phường Cầu Giấy, một người mẹ kéo chiếc ghế nhựa vào sát gốc cây rồi ngồi xuống. Con trai chị vừa bước qua cổng trường ít phút trước.

Minh họa: TÙNG NGUYỄN

Tạm biệt Chân Mây

Mây sà rất thấp. Buổi sáng ở ga thường thế. Từ phía Chân Mây, những dải mây trắng bò qua sườn núi, tràn khắp đường ray, phủ lên mái ga bàng bạc. Nhiều hôm, Phước đứng ngoài sân, chỉ còn thấy lờ mờ ánh đèn tín hiệu phía trước, đoàn tàu hiện ra chậm chạp như cũng đến từ cõi mây.

Ảnh: ANH QUÂN

Mùi báo giấy còn vương

Hồi tờ Tuổi trẻ thông báo ra số Cuối tuần cuối cùng để chuyển sang mô hình Tuổi trẻ cuối tháng, tôi hơi khựng lại, như thể có một thứ vốn quen thuộc, từng nằm yên trong nhịp sống suốt rất nhiều năm bỗng cũng bị cuốn vào sự dịch chuyển của thời cuộc, của cách con người đọc tin tức…

Ảnh: SONG ANH

Một quãng đê hoa vàng, cỏ xanh

Quãng đê nào cũng hấp dẫn, và quãng đê dẫn lên đầu cầu Đuống thật sự khác biệt. Bất thình lình, một triền đê hoa vàng, cỏ xanh mở ra mênh mang. Không dài nhưng đủ để gieo vào lòng lữ khách một chút bồi hồi, man mác. Một cảm xúc rất Pau (Paustovsky - nhà văn Nga)!

Sau hơn 10 năm hoạt động, nhà sách cuối cùng trong hệ thống Cá Chép phải nói lời tạm biệt Thành phố Hồ Chí Minh.

Khoảng lặng giữa phố

Ly trà đặt nhẹ trên bàn, chưa kịp phả hơi lạnh vào lòng tay khách, giọng của nữ quản lý đã nhuốm màu buồn bã: “Hôm nay ngồi thật lâu nha! Hai ngày nữa thôi, quán phải ngưng, thay đổi mô hình”. Tiếng thở dài thật khẽ, đủ để khách và quản lý quán cùng vấn vương, không làm phiền những người còn lại.

Sách cũ. Ảnh: NAM ANH

Tiệm sách cũ phố Cát Cụt

Hiệu sách cũ nằm ở phố Cát Cụt của Hải Phòng, nơi mà nếu người ta không để ý, sẽ dễ dàng đi ngang qua, chẳng hề hay biết mình vừa bỏ lỡ một thế giới khác.

Làng chài Sê San.

Sau cuộc rong ruổi của những người ly hương

Ngược dòng thời gian về những năm 2000, ngư dân nghèo vùng sông nước An Giang dắt díu nhau lên Tây Nguyên làm thuê. Trong những ngày tháng rong ruổi đầy gian truân ấy, họ vô tình tìm thấy lòng hồ thủy điện Sê San 4. Mặt nước mênh mông, tĩnh lặng như đánh thức bản năng sông nước của những người con sinh ra từ dòng sông Hậu.

Củi thông đun bếp.

Lửa thông

Gió từ núi đi ngang ngôi nhà ngai ngái mùi gỗ giữa những vườn rau mãn vụ.

Minh họa: HOÀNG NGUYÊN THẠCH

Mầm cây đợi

Con đường độc đạo từ bản đến trường ướt nhấm nhoét. Đất đá tở ra từng tảng, thi thoảng có những hộc đá lăn xuống chặn ngang đường. 

Sống đời phu cơm

Quốc Anh, 40 tuổi, mỗi sáng ra khỏi nhà cùng một chiếc điện thoại sạc đầy, một bình nước lọc, cái áo khoác bạc màu vì nắng, và chiếc hộp đựng đồ ăn vuông vức treo trước xe như hòm thuốc của một ông lang. Anh không chữa bệnh. Anh chữa đói. Mà đói ở phố bây giờ là thứ bệnh cấp tính, phát lên rất nhanh, đòi cấp cứu trong 15 phút.