Tình thương trên mạng

Gần đây, tôi theo dõi một nhóm Facebook chuyên cho tặng đồ miễn phí ở Hà Nội, thành viên đâu đó hơn 200 nghìn người. Nhóm có nguyên tắc khá đơn giản rằng cho đồ, xin đồ, có thể xin việc, nhưng không xin tiền, cho tiền. Nhờ thế, câu chuyện vẫn còn giữ được chút trong trẻo của việc một người thừa cái gì đó và một người khác vừa hay đang thiếu.

Những thứ được đem cho nhiều khi nhỏ đến mức chẳng ai nghĩ có ngày mình phải viết một bài báo về chúng. Một suất cơm nấu phần cho đứa con, đến bữa nó báo không về. Một mâm nhậu chuẩn bị cho bốn người nhưng hai ông bạn bận đột xuất, còn thừa một nửa đồ ăn và cả đồ uống. Ba suất mì khách đặt rồi bom hàng. Quần áo trẻ con đã chật, đồ chơi con lớn không còn dùng. Một chiếc áo ngực mới nguyên nhưng mua nhầm size. Có người chẳng cho đồ gì cả, chỉ đăng rằng mình biết sửa điện, nước và mấy thứ lặt vặt trong nhà, gia đình neo đơn trong khu vực cần thì gọi, anh ấy sẽ tới làm miễn phí.

Người xin cũng đủ dạng, và những thứ họ xin cho thấy, đời sống ở thành phố có những khoảng trống mà nếu chỉ nhìn từ văn phòng máy lạnh sẽ khó biết. Một người mẹ nhà khó khăn sắp đi đám cưới em gái, xin chiếc váy cho mình và bộ đồ tử tế cho con nhỏ “để hai mẹ con khỏi tủi thân”. Một anh chạy xe xin suất cơm vì hôm ấy chưa có cuốc nào. Có người không xin đồ, hỏi ai cần lao động chân tay theo buổi thì gọi. Không phải ai cũng nghèo theo cách giống nhau nhưng phần nào, lòng tự trọng của người đi xin vẫn được bảo toàn với rất nhiều cảm thông.

Cho đồ trên mạng tuyệt nhiên không phải thú vui nhàn nhã. Người cho phải chụp ảnh, đăng bài, trả lời tin nhắn, xem ai nhận, hẹn giờ, tìm túi, tìm hộp, gói đồ, rồi ngồi chờ. Cũng có những “phốt” như người đã được cho một lần rồi gọi mãi, hôm nay khó khăn chuyện này, ngày mai cay cực chuyện khác, cuối cùng lòng tốt của người cho phải kết thúc bằng thao tác chặn số. Một nhóm 200 nghìn người thì dĩ nhiên không thể chỉ có những nhân vật bước ra từ truyện cổ tích. Người tham, người dai, người nhận xong đem bán lại hay không thì chẳng ai biết. Nhưng đó mới là cuộc đời.

Điều đáng nói là sau khi biết hết những phiền hà ấy, người ta vẫn cho. Đây mới là chỗ khiến tôi thấy cái nhóm này thú vị. Vứt một túi quần áo mất hai phút. Cho nó đi có khi mất cả buổi tối. Đổ suất ăn thừa chỉ cần một thao tác. Tìm người ăn nó phải là cả một quá trình. Một cái nồi cũ đem xuống đồng nát có khi còn được mấy chục nghìn, đem tặng lại phải lau sạch rồi đứng đợi một người lạ ngoài cửa.

Người Hà Nội vốn có một thứ tính cách nghe sang thì gọi là căn cơ, nghe kém sang hơn thì là tiếc của. Nhà cũ từng có túi nylon sạch gấp lại, dây chun buộc thành chùm, lọ thủy tinh rửa kỹ để dành, cơm nguội sáng rang lên, áo của anh truyền xuống cho em. Một thời nghèo khiến người ta khó chịu nổi cảnh đồ còn dùng được mà bị vứt. Sau này thành phố giàu hơn, đồ đạc rẻ đi, shipper có thể mang một món mới đến tận cửa chỉ sau vài cú bấm điện thoại, nhưng cái phản xạ “còn tốt mà” dường như vẫn chưa mất hẳn.

Mạng xã hội vốn thường bị buộc tội làm kết nối thật yếu đi, lần này hóa ra lại làm được việc rất cổ điển. Đó là dựng thành phố thành một cái làng to. Tất nhiên, cái làng ấy vẫn có người tử tế, người phiền, người cả tin, người khôn lỏi. Nhưng hôm sau, trên nhóm vẫn lại có người đăng một hộp cơm, một đôi giày trẻ con, mấy quyển sách giáo khoa, một cái quạt còn chạy.

Thành phố tử tế có lẽ chẳng phải nơi ai cũng dư dả. Chỉ là nơi cái phần dư của người này, bằng một cách nào đó, vẫn tìm được đường sang cái phần thiếu của người kia, dù có thể hơi phiền và phải thử thách lòng tin. Và cái thói tiếc của tới tình thương trên mạng ấy, làm thành phố này cũng ấm áp, đáng sống hơn nhiều phần.

Có thể bạn quan tâm

Ảnh: SONG ANH

Chiếc hộp nhỏ cuối hành lang

Một chiều đầu thu, Minh trở lại Trường tiểu học Đông Ngạc sau gần 20 năm. Cổng trường vẫn ở đó, chỉ có Minh là đã khác. Cậu ngoại 30, có một gia đình nhỏ và những đứa con đang ở đúng cái tuổi ngày trước cậu từng ngồi trong những phòng học này. Đứng trước cổng trường, ký ức tưởng đã ngủ yên bỗng trở về: Tiếng trống, mùi nắng trên sân, những chiếc áo trắng tung tăng giờ ra chơi và một người phụ nữ thường xuất hiện ở cuối hành lang, tay cầm chiếc chổi, mái tóc điểm bạc.

Người đi sau đoàn

Chuyến xe hôm ấy khởi hành muộn, lý do cũng chẳng có gì lạ. Một đứa trẻ chuẩn bị đi thì bỗng dưng đau bụng (mà cơn đau kiểu ấy của trẻ thì nó đến một cách thường xuyên nhưng cũng đầy bất ngờ). Chẳng ai lường trước được. Lại nữa, một người mẹ bỗng dưng quên đồ của con. Đứa trẻ 5 tuổi không thể thiếu bất cứ cái gì mà người phụ nữ chu đáo đã dày công chuẩn bị. Thế là chuyến đi ra khỏi thành phố trễ nửa tiếng.

Cụ già đầu ngõ

Cụ già đầu ngõ

Bà già ngồi trước ngõ gần như suốt ngày. Sáng cũng thấy bà, chiều cũng thấy bà, có hôm tôi đi về quá mười giờ đêm vẫn thấy cái dáng nhỏ thó ấy ngồi trên chiếc ghế nhựa thấp, trước mặt là túi len, lúc nào bà cũng đan len. Tôi vẫn nghĩ nó là thói quen luôn chân luôn tay của lớp người thế hệ trước.

Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước

Hồn Tổ quốc khắc nên hình đất nước

Sau 30 phút ngồi cabin cáp treo, chúng tôi lên tới “nóc nhà Đông Dương”. Ngắm nhìn và chụp ảnh mãn nguyện, chúng tôi lục tục giục nhau “xuống núi”. Ông Kim Lãm, người “tổ chức” nhóm lên đỉnh Phan Xi Phăng, xua tay vội vã: “Hôm nay là thứ 6. Điều đặc biệt sắp xảy ra”…

Thịt luộc mắm tép. Ảnh: SONG ANH

Mắm tép

Mâm cơm có thêm bát mắm tép. Vị ngọt thanh xen lẫn chua nhẹ vừa chạm đầu lưỡi. Đĩa rau muống luộc xanh mướt, bốc lên làn khói mỏng.

Ảnh: K.MINH

Mỗi năm giỗ gộp một lần

Giữa những bộn bề của công việc ngành y tại miền núi xã Nam Trà My. Mỗi chuyến về thăm nhà của anh Phan Văn Tân luôn là một cuộc chạy đua với thời gian.

Ảnh: HẢI ANH

Ba tình huống

Ngày… năm 200x, tôi cưỡi chiếc xe SH mới mua, phóng nhanh trong phố cổ. Giữa giờ trưa, phố vắng, cưỡi trên con xe mới, nhu cầu được tăng adrenalin trong máu thúc đẩy cậu thanh niên mới lớn vít mạnh tay ga. Xe chạy “rẽ tóc”.

Ảnh: SONG ANH

Góc rẽ

Hàng xe nối dài trước sảnh chung cư. Dưới nắng đầu hè, mặt đường rung lên bởi tiếng động cơ. Một chiếc xe bốn chỗ cố lách vào khoảng trống hẹp còn lại. Tiếng còi xe chát chúa khiến người đàn ông trung niên ngoái đầu. Tay trái ông đeo chiếc ba-lô, tay phải dắt một đứa trẻ. Vừa kịp nhận ra tiếng còi không hướng về mình, ông bước tiếp. Đứa bé gái vẫn nắm chặt tay ông. Phía trước là một góc rẽ.

Tháng Bảy, tôi về thăm ông

Sáng tháng Bảy, tôi đưa con gái vào Nghĩa trang Mai Dịch thắp hương cho ông ngoại. Con bé ôm bó huệ trắng, cẩn thận châm từng nén hương rồi đứng rất lâu trước tấm bia đá. Trên tấm bia chỉ vài dòng ngắn ngủi: Tên ông, đơn vị Tây Tiến, năm hy sinh 1946. Chỉ vậy thôi. Con gái ngước lên hỏi: “Sao con chưa bao giờ được nhìn thấy ảnh cụ?”. Tôi mỉm cười mà thấy mắt mình cay.