Tăng mức lương tối thiểu vùng từ ngày 1/1/2027

Theo quy định mới ban hành, mức lương tối thiểu vùng và mức lương tối thiểu tháng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động sẽ chính thức tăng từ ngày 1/1/2027.

(Ảnh minh họa: CTV)
(Ảnh minh họa: CTV)

Ngày 2/11, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà ký ban hành Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động.

Theo đó, đối tượng áp dụng của Nghị định gồm ba nhóm sau:

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động.

Người sử dụng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động, bao gồm: Doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp; cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình theo thỏa thuận.

Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến việc thực hiện mức lương tối thiểu quy định tại Nghị định này.

Mức lương tối thiểu tháng tăng thêm từ 310.000 đến 390.000 đồng

Theo Nghị định số 399/2026/NĐ-CP, mức lương tối thiểu tháng tại 4 vùng so với quy định tại Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ được quy định như sau:

Vùng
Mức lương tối thiểu tháng
(Đơn vị: đồng/tháng)
Mức lương tối thiểu giờ
(Đơn vị: đồng/giờ)
Vùng I
5.700.000
27.400
Vùng II
5.080.000
24.400
Vùng III
4.450.000
21.400
Vùng IV
4.040.000
19.400

Mức lương tối thiểu theo giờ tại vùng I tăng từ 25.500 đồng/giờ lên 27.400 đồng, vùng II từ 22.700 đồng/giờ lên 24.400 đồng, vùng III từ 20.000 đồng/giờ lên 21.400 đồng, vùng IV từ 17.800 đồng/giờ lên 19.400 đồng.

Danh mục địa bàn vùng I, vùng II, vùng III, vùng IV được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này.

Việc áp dụng địa bàn vùng được xác định theo nơi hoạt động của người sử dụng lao động như sau:

Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn thuộc vùng nào thì áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.

Người sử dụng lao động có đơn vị, chi nhánh hoạt động trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì đơn vị, chi nhánh hoạt động ở địa bàn nào, áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn đó.

Người sử dụng lao động hoạt động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung, khu kinh tế đặc biệt, khu thương mại tự do, khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao nằm trên các địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất.

Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn có sự đổi tên hoặc chia thì tạm thời áp dụng mức lương tối thiểu quy định đối với địa bàn trước khi đổi tên hoặc chia cho đến khi Chính phủ có quy định mới.

Người sử dụng lao động hoạt động trên địa bàn được thành lập từ một địa bàn hoặc nhiều địa bàn có mức lương tối thiểu khác nhau thì áp dụng mức lương tối thiểu theo địa bàn có mức lương tối thiểu cao nhất cho đến khi Chính phủ có quy định mới.

Trước đó, Bộ Nội vụ cũng đề xuất mức lương tối thiểu tăng từ 310.000 đồng-390.000 đồng (tương ứng tỷ lệ bình quân 7,8%) so với mức lương tối thiểu hiện hành. Mức điều chỉnh lương tối thiểu nêu trên cao hơn khoảng 3,7% so với mức sống tối thiểu của người lao động đến hết năm 2027 để cải thiện cho người lao động.

Mức điều chỉnh này có sự chia sẻ, hài hòa lợi ích của người lao động và doanh nghiệp, vừa chú ý cải thiện đời sống cho người lao động, vừa chú ý đến việc bảo đảm duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương người lao động

Nghị định số 399/2026/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu tháng là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tháng, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc đủ thời giờ làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng.

Mức lương tối thiểu giờ là mức lương thấp nhất làm cơ sở để thỏa thuận và trả lương đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo giờ, bảo đảm mức lương theo công việc hoặc chức danh của người lao động làm việc trong một giờ và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận không được thấp hơn mức lương tối thiểu giờ.

Đối với người lao động áp dụng hình thức trả lương theo tuần hoặc theo ngày hoặc theo sản phẩm hoặc lương khoán thì mức lương của các hình thức trả lương này nếu quy đổi theo tháng hoặc theo giờ không được thấp hơn mức lương tối thiểu tháng hoặc mức lương tối thiểu giờ.

Mức lương quy đổi theo tháng hoặc theo giờ trên cơ sở thời giờ làm việc bình thường do người sử dụng lao động lựa chọn theo quy định của pháp luật lao động như sau:

Mức lương quy đổi theo tháng bằng mức lương theo tuần nhân với 52 tuần chia cho 12 tháng; hoặc bằng mức lương theo ngày nhân với số ngày làm việc bình thường trong tháng; hoặc bằng mức lương theo sản phẩm, lương khoán thực hiện trong thời giờ làm việc bình thường trong tháng.

Mức lương quy đổi theo giờ bằng mức lương theo tuần, theo ngày chia cho số giờ làm việc bình thường trong tuần, trong ngày; hoặc bằng mức lương theo sản phẩm, lương khoán chia cho số giờ làm việc trong thời giờ làm việc bình thường để sản xuất sản phẩm, thực hiện nhiệm vụ khoán.

Không được cắt giảm các chế độ tiền lương của người lao động

Nghị định số 399/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027.

Nghị định số 293/2025/NĐ-CP ngày 10/11/2025 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động hết hiệu lực kể từ ngày 1/1/2027.

Nghị định số 399/2026/NĐ-CP nêu rõ, người sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức rà soát lại các thỏa thuận trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và các quy chế, quy định của người sử dụng lao động để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; không được xoá bỏ hoặc cắt giảm các chế độ tiền lương khi người lao động làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm, chế độ bồi dưỡng bằng hiện vật và các chế độ khác theo quy định của pháp luật lao động.

Đối với các nội dung đã thỏa thuận, cam kết trong hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể hoặc các thỏa thuận hợp pháp khác có lợi hơn cho người lao động (như chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh đòi hỏi qua học tập, đào tạo nghề cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu và chế độ trả lương cho người lao động làm công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 5%; công việc hoặc chức danh có điều kiện lao động đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm cao hơn ít nhất 7% so với mức lương của công việc hoặc chức danh có độ phức tạp tương đương, làm việc trong điều kiện lao động bình thường) so với quy định tại Nghị định này, thì tiếp tục được thực hiện, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Có thể bạn quan tâm

Chụp chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện K. (Ảnh: NAM NGUYỄN)

Vì sao hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn phải tự chi trả?

Mức hưởng bảo hiểm y tế 80%, 95% hoặc 100% được áp dụng với chi phí trong phạm vi được hưởng và theo điều kiện thanh toán của pháp luật bảo hiểm y tế, không mặc nhiên tính trên toàn bộ hóa đơn viện phí. Quyền lợi thực tế phụ thuộc vào phạm vi chi trả, danh mục thuốc, vật tư y tế, điều kiện thanh toán, hình thức khám, chữa bệnh.

Tuyên truyền chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện trực tiếp đến người lao động tại cơ sở ở Cà Mau. (Ảnh: NGUYỄN ĐẠT)

Điểm tựa bình yên khi về già

Những ngày cuối thu, vùng quê sông nước Cà Mau trở nên ấm áp với các buổi trao quyết định hưởng lương hưu của Bảo hiểm xã hội Cà Mau cho các lao động tự do. Với họ, đó là một phần niềm an ủi khi về già để con, cháu bớt gánh nặng lúc ốm đau, bệnh tật.

Các đại biểu dự lễ ra quân “Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội-Bưu điện Việt Nam, Chung tay lan tỏa an sinh-Vì mục tiêu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân”. (Ảnh BTC)

Chung tay lan tỏa an sinh - Vì mục tiêu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân

Lễ ra quân “Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội-Bưu điện Việt Nam, Chung tay lan tỏa an sinh-Vì mục tiêu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế toàn dân” đã được phát động nhằm đẩy mạnh phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm y tế tự đóng trên địa bàn Thủ đô trong những tháng cuối năm 2026.

Quang cảnh hội nghị. (Ảnh VSS)

Nâng cao chất lượng nghiệp vụ lưu trữ của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ lưu trữ trong hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam hướng tới nâng cao chất lượng quản lý tài liệu, đẩy nhanh tiến trình số hóa, xây dựng nền tảng lưu trữ điện tử an toàn, tin cậy. Từ đó, góp phần phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành và thực hiện nhiệm vụ của hệ thống trong giai đoạn mới.

Từ ngày 1/9, số định danh cá nhân/căn cước công dân thay mã số bảo hiểm xã hội. (Ảnh: nhandan.vn)

Chuyển đổi thành công cho hơn 101 triệu người từ mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân, căn cước công dân

Theo thống kê, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi...

Quang cảnh buổi làm việc giữa Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội và Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội, tháng 8/2026. (Ảnh HSS)

Thu hồi hơn 396 tỷ đồng tiền chậm đóng, trốn đóng các chế độ bảo hiểm

Đến hết tháng 9/2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã ban hành quyết định kiểm tra tại 7.553 đơn vị, yêu cầu truy thu gần 180 tỷ đồng cho 60.710 lao động chưa tham gia hoặc đóng thiếu các chế độ bảo hiểm. Số tiền chậm đóng, trốn đóng thu hồi được trong thời gian kiểm tra là hơn 396 tỷ đồng trên tổng số gần 649 tỷ đồng, đạt hơn 61%.

Sản xuất thiết bị điện công nghệ cao tại Công ty cổ phần Kỹ thuật công nghiệp Á Châu tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc. (Ảnh: nhandan.vn)

Người tham gia nhận sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử như thế nào?

Từ ngày 6/10/2026, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội cấp sổ bảo hiểm xã hội điện tử cho người tham gia để giải quyết các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định. Sau đây là hướng dẫn cụ thể cách nhận và sử dụng sổ bảo hiểm xã hội, thẻ bảo hiểm y tế điện tử.