Tăng hiệu quả từ các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước

Chiều 16/12, Báo Đại biểu nhân dân và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông khoa học - công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức giao lưu trực tuyến “Hiệu quả từ các chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước”.

Ảnh: Báo Đại biểu nhân dân.
Ảnh: Báo Đại biểu nhân dân.

Chương trình nhằm đánh giá và thông tin đến công chúng những kết quả đạt được của các chương trình khoa học - công nghệ trọng điểm cấp Nhà nước.

Bên cạnh đó, nêu rõ những đóng góp của ngành khoa học - công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội; vai trò của khoa học - công nghệ trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Đồng thời, khẳng định khoa học - công nghệ chính là động lực trong phát triển kinh tế-xã hội của đất nước; nhận diện những khó khăn hạn chế; đề xuất và kiến nghị các giải pháp để xây dựng chương trình khoa học - công nghệ trọng điểm thời gian tới.

Trong giai đoạn 2016-2020, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt triển khai 7 chương trình khoa học - công nghệ trọng điểm cấp quốc gia do Bộ trực tiếp quản lý. Đó là một số chương trình như: Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng; Nghiên cứu các vấn đề trọng yếu của khoa học xã hội và nhân văn phục vụ phát triển kinh tế-xã hội; Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai; Nghiên cứu khoa học và công nghệ phục vụ quản lý biển, hải đảo và phát triển kinh tế biển…

Ông Trần Đỗ Đạt, Phó Giám đốc phụ trách Văn phòng các chương trình trọng điểm cấp Nhà nước (Bộ Khoa học và Công nghệ), chia sẻ, các chương trình khoa học - công nghệ trọng điểm cấp quốc giai đoạn 2016-2020 được phê duyệt trên cơ sở Quyết định số 1318/QĐ-BKHCN ngày 5/6/2015 của Bộ trưởng Khoa học - Công nghệ và Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về Chính phủ điện tử.

Cụ thể, có 7 chương trình, bao gồm 6 chương trình thuộc lĩnh vực khoa học - công nghệ (chương trình KC) và 1 chương trình thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn (chương trình KX.01).

Một số kết quả thuộc các chương trình:
469 loại sản phẩm dạng 1 trong đó có 103 loại thiết bị máy móc; 85 loại vật liệu mới; 31 dây chuyền công nghệ; 69 là các mẫu, mô hình; 136 loại sản phẩm là hàng hóa có thể tiêu thụ và những sản phẩm khác như giống cây trồng, chủng nấm... đã thương mại hóa hàng trăm tỷ đồng trong quá trình thực hiện.
384 giải pháp, quy trình công nghệ, 90 cơ sở dữ liệu/ bộ số liệu, 60 phần mềm các loại.
Nhiều giải pháp/quy trình công nghệ sau khi được hoàn thiện đã được ứng dụng ngay vào thực tiễn đồng thời được nhân rộng phổ biến.
Nhiều phần mềm sau khi được thử nghiệm đã được sử dụng và ứng dụng triển khai ngay sau khi kết thúc đề tài tại các cơ quan của bộ, ngành trung ương và địa phương.

Sau 5 năm hoạt động, đã có 257 nhiệm vụ được phê duyệt và triển khai. Với sự nỗ lực rất lớn của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu và các cơ quan quản lý. Đến nay, 97% các nhiệm vụ khoa học - công nghệ của các chương trình đã được đánh giá nghiệm thu với 40 nhiệm vụ có kết quả xuất sắc.

Nhiều báo cáo kiến nghị, chắt lọc từ kết quả của nhiệm vụ đã được gửi tới các cơ quan ban ngành của Đảng, Chính phủ và Quốc hội như: Hội đồng Lý luận Trung ương, Ban Kinh tế Trung ương, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Văn phòng Chính phủ, bộ, ban, ngành... phục vụ cho việc soạn thảo một số nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII.

Kết quả chung đáng chú ý là đầu tư Ngân sách Nhà nước tăng đáng kể cho các nhiệm vụ, trung bình tăng trên 50% so với các nhiệm vụ thuộc cả chương trình KC và KX giai đoạn 2011-2016.

Về kết quả khoa học, số lượng công bố quốc tế tăng mạnh. Tính trung bình trên đầu nhiệm vụ, các chương trình KC, các bài báo quốc tế thuộc danh mục ISI và Scopus tăng: KC tăng 2 lần (1,04 bài/NV ; 0,49 bài/NV (2011-2015)); KX tăng 3 lần (0,75 bài/NV ; 0,24 bài/NV (2011-2015)

Kết quả này minh chứng hiệu quả đầu tư, đồng thời minh chứng các nhiệm vụ không chỉ giải quyết những nội dung, vấn đề không chỉ đáp ứng yêu cầu đòi hỏi ở trong nước, mà còn tiếp cận với các bài toán, những vấn đề được quan tâm nghiên cứu tầm thế giới.

Đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của các nhiệm vụ thuộc các chương trình KC tăng 48% so với 6 Chương trình tương ứng của giai đoạn trước.

Tiếp tục nâng cao tiềm lực khoa học và công nghệ thông qua hỗ trợ hơn 9.700 lượt thành viên tham gia thực hiện, với hơn 2.900 cán bộ, nhà khoa học là thành viên tham gia thực hiện chính triển khai các nhiệm vụ.

Mỗi chương trình đều có những kết quả nổi bật trong làm chủ kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, ứng dụng trong thực tiễn và đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Có thể bạn quan tâm

Các sản phẩm chè Tủa Chùa ngày càng được chuẩn hóa bao bì, mở rộng thị trường tiêu thụ và nâng tầm giá trị. (Ảnh: Mỹ Linh)

Để sáng chế y dược không dừng lại trong phòng thí nghiệm

Nhiều kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực y dược có tiềm năng ứng dụng nhưng để đi từ phòng thí nghiệm đến thị trường, các nhà khoa học còn phải vượt qua khoảng cách lớn về bảo hộ, định giá, đàm phán và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ.

Pháp và Việt Nam có tiềm năng hợp tác trong lĩnh vực công nghệ phục vụ chuyển đổi xanh. (Ảnh: Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam)

Tăng cường kết nối khoa học-công nghệ Việt Nam-Pháp

Mối quan hệ Việt Nam-Pháp có bề dày lịch sử hơn 50 năm, đã vượt qua những thách thức của khoảng cách địa lý và biến động tình hình khu vực, thế giới, ngày càng phát triển mạnh mẽ và mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân hai nước. 

Trung tâm phục vụ hành chính công phường Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. (Ảnh: CÔNG VINH)

Xử lý điểm nghẽn chuyển đổi số, đưa hệ thống số vào vận hành hiệu quả

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số trên toàn quốc vẫn đối mặt không ít khó khăn về hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và cơ chế thực thi. Để khắc phục bất cập này, Kế hoạch 100 ngày xử lý các điểm nghẽn về chuyển đổi số được kỳ vọng đưa hệ thống số vào vận hành đồng bộ, hiệu quả.

Nhóm cán bộ, kỹ thuật viên vận hành thiết bị bay không người lái (UAV) để thu thập dữ liệu hiện trạng hạ tầng đường bộ.

Công nghệ giúp nhận diện sớm nguy cơ mất an toàn đường bộ

Từ kiểm tra mặt đường bằng xe khảo sát chuyên dụng đến sử dụng thiết bị bay không người lái (UAV) kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI), ngành đường bộ đang từng bước ứng dụng công nghệ để nhận diện sớm những bất thường của hạ tầng, qua đó chủ động hơn trong bảo trì, phòng ngừa sự cố và bảo đảm an toàn giao thông.

Hiệu chỉnh hệ thống trước khi khảo sát thực địa.

AI hỗ trợ bảo đảm an toàn từ mặt đường

Không chỉ phục vụ công tác sửa chữa, bảo trì, dữ liệu về tình trạng mặt đường được thu thập bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo (AI) còn tạo thêm cơ sở để nhận diện, đánh giá và xử lý kịp thời những vị trí có thể ảnh hưởng an toàn giao thông.

Bà Nguyễn Thanh Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội phát biểu khai mạc hội nghị. (Ảnh: QH)

Đồng Nai tạo đột phá từ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Với nhiều lợi thế nổi bật, Đồng Nai đang đứng trước cơ hội lớn để tạo bước đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Thường trực Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đề nghị thành phố lựa chọn những nội dung có điều kiện chín muồi nhất, chuyển hóa chủ trương thành sản phẩm cụ thể.