Để duy trì ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần linh hoạt áp dụng giải pháp ứng phó trước biến động thị trường cũng như bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập nhằm giữ chân người lao động.
Đối diện nhiều áp lực
Chánh Văn phòng Hội đồng quản trị Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) Hoàng Mạnh Cầm cho biết, sau thời hạn 150 ngày áp dụng mức thuế tạm thời 10% kết thúc vào ngày 24/7, Mỹ chuyển sang áp dụng thuế theo Section 301 liên quan đến lao động cưỡng bức, với ba nhóm chính (đã cộng trực tiếp vào thuế MFN-thuế tối huệ quốc) chịu thuế 10%, nhóm ở ngưỡng cố định 10% hoặc 12,5% và nhóm chịu thuế 12,5%. Với cách tính này, Việt Nam là một trong những nước chịu mức thuế cao nhất, chắc chắn sẽ gặp bất lợi trong cạnh tranh xuất khẩu hàng hóa so với những quốc gia có mức thuế thấp hơn.
“Cấu trúc thuế mới không chỉ làm thay đổi tương quan cạnh tranh giữa các quốc gia xuất khẩu dệt may mà còn tác động đến hàng may mặc thành phẩm, có thể thúc đẩy sự dịch chuyển đơn hàng và chuỗi cung ứng đối với sợi, vải và nguyên liệu. Vì vậy, doanh nghiệp cần đánh giá lại lợi thế cạnh tranh theo từng nhóm sản phẩm, thị trường và vị trí trong chuỗi giá trị, thay vì chỉ so sánh mức thuế bình quân giữa các quốc gia”, ông Hoàng Mạnh Cầm nhấn mạnh.
Tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tăng trưởng ở trạng thái thận trọng khi các ngân hàng trung ương lớn duy trì chính sách tiền tệ tương đối chặt chẽ. Lãi suất tại Mỹ, châu Âu và Nhật Bản vẫn ở mức cao, tạo áp lực lên tiêu dùng, đầu tư và chi phí vốn của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, xuất khẩu dệt may Việt Nam vẫn giữ nhịp tăng trưởng, với tổng kim ngạch xuất khẩu trong sáu tháng đầu năm đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 6,2% so cùng kỳ năm 2025.
Mỹ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của dệt may Việt Nam, tiếp theo là EU, Nhật Bản, Trung Quốc và ASEAN. Xuất khẩu sang Trung Quốc và EU tăng khá; điều này cho thấy các thị trường trọng điểm đang có dấu hiệu phục hồi, đồng thời phản ánh nỗ lực đa dạng hóa thị trường của doanh nghiệp.
Liên quan tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, Tổng Giám đốc Vinatex Cao Hữu Hiếu khẳng định: Mặc dù kết quả sản xuất, kinh doanh của đơn vị trong bảy tháng qua tương đối tích cực nhưng biên lợi nhuận của cả ngành sợi và ngành may đang có xu hướng thu hẹp do giá nguyên liệu, giá bán, cơ cấu đơn hàng và chi phí đầu vào còn nhiều biến động.
Do đó, các đơn vị trong hệ thống cần bám sát diễn biến thị trường, chủ động xây dựng và điều hành theo các kịch bản về đơn hàng, nguyên liệu, tỷ giá, logistics; đồng thời duy trì kỷ luật quản trị, kiểm soát chặt chi phí, dòng tiền, công nợ, tồn kho và vốn lưu động cũng như nâng cao năng suất lao động, bảo đảm chất lượng sản phẩm, tiến độ giao hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng.
Tổng Giám đốc Tổng công ty cổ phần Dệt may Nam Định Vũ Ngọc Tuấn thông tin, thời gian qua, đơn vị đối diện nhiều khó khăn trước biến động thị trường, nhất là chi phí vận chuyển, giá nguyên phụ liệu tăng cao ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Tuy nhiên, sự nỗ lực của người lao động trong toàn hệ thống đã giúp doanh thu của đơn vị trong sáu tháng qua đạt 662,2 tỷ đồng, tăng 14%; lợi nhuận trước thuế đạt 15,2 tỷ đồng, so mức lỗ 12,5 tỷ đồng cùng kỳ và hoàn thành 169% kế hoạch năm.
Thị trường thời gian tới sẽ tiếp tục diễn biến khó lường và tiềm ẩn nhiều rủi ro, cho nên doanh nghiệp sẽ điều hành theo hướng lấy hiệu quả và dòng tiền làm trọng tâm, đồng thời nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm cũng như tiếp tục cải thiện điều kiện làm việc, bảo đảm việc làm, nâng cao thu nhập nhằm giữ chân người lao động.
Triển khai 3 trụ cột chiến lược
Mỗi năm ngành dệt may Việt Nam xuất khẩu hàng chục tỷ USD nhưng giá trị mang lại thấp. Nguyên nhân của sự hạn chế này là do phải phụ thuộc vào nguồn cung nguyên phụ liệu, đặc biệt là các loại nguyên liệu cao cấp và các phụ kiện chất lượng cao, ước tính khoảng 70-80% nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ thị trường nước ngoài. Đây là khoản chi phí rất lớn, có thể tiết kiệm, nếu ngành công nghiệp hỗ trợ trong nước phát triển.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Đức, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Công nghiệp và Thương mại Hà Nội, điểm nghẽn lớn nhất của ngành dệt may hiện nay nằm ở khâu dệt nhuộm, trong khi khâu sợi và may của Việt Nam tương đối tốt.
Nếu hoàn chỉnh được chuỗi nguyên phụ liệu từ sợi, dệt, nhuộm, may sẽ giúp doanh nghiệp không chỉ chủ động trong sản xuất hàng hóa mà còn nâng cao sức cạnh tranh, gia tăng giá trị sản phẩm. Hiện nay đã có một số doanh nghiệp đầu tư, hoàn thiện theo chuỗi nhưng số này rất ít, chủ yếu tập trung ở những doanh nghiệp lớn, thuộc hệ thống Vinatex.
Nhằm nâng cao sức cạnh tranh, đặc biệt để tận dụng tốt các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mang lại, bắt buộc phải có sự liên kết từ chuỗi bằng cách thành lập các khu công nghiệp tập trung, tạo thành chuỗi cung ứng hoàn chỉnh sẽ giúp giảm chi phí cho doanh nghiệp.
Muốn làm được điều này, Nhà nước cần có các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm thu hút doanh nghiệp. Bên cạnh đó, có các chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao sẵn sàng đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời đại mới.
Thời gian qua, ngành dệt may Việt Nam đối diện nhiều khó khăn khi chuỗi cung ứng toàn cầu bị đứt gãy, chi phí logistics tăng cao, yêu cầu từ các nhãn hàng quốc tế ngày càng khắt khe cùng với chính sách mua hàng của nhiều thị trường lớn thay đổi nhanh chóng, đặt doanh nghiệp vào trạng thái phải liên tục thích ứng.
Trước những thách thức đó, ngành dệt may đã xác lập và triển khai thành công ba trụ cột chiến lược mang tính nền tảng, đó là đa dạng hóa sản phẩm, thị trường, khách hàng. Phân tích rõ hơn về chiến lược phát triển của ngành, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) Vũ Đức Giang khẳng định: Từ chỗ phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống, đến nay sản phẩm dệt may Việt Nam đã có mặt tại 138 thị trường trên toàn cầu, qua đó giảm thiểu rủi ro, tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài.
Chiến lược đa dạng hóa đối tác, khách hàng đã giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong đàm phán, thích ứng với sự thay đổi trong phương thức mua hàng và giảm phụ thuộc vào một số ít nhãn hàng lớn. Thực hiện đa dạng hóa sản phẩm cũng giúp chuyển dần từ các sản phẩm gia công đơn giản sang các sản phẩm đáp ứng tốt hơn nhu cầu ngày càng phân hóa của thị trường, phù hợp với xu hướng tiêu dùng mới.
Để hiện thực hóa các trụ cột chiến lược nêu trên, ngành dệt may Việt Nam đang tập trung vào các nhóm giải pháp trọng tâm, trong đó, đẩy mạnh chương trình xanh hóa ngành dệt may, coi phát triển bền vững không chỉ là yêu cầu tuân thủ mà là điều kiện sống còn để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng khoa học-công nghệ, tự động hóa, robot hóa và từng bước đưa trí tuệ nhân tạo tham gia vào chuỗi sản xuất và chuỗi cung ứng. Đây được xem là chìa khóa để nâng cao năng suất, chất lượng, tăng sức cạnh tranh trong dài hạn.