...Không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế ổn định cho người dân, lĩnh vực này đang từng bước khẳng định vai trò là một trong những trụ cột của nông nghiệp địa phương.
Phát triển quy mô trang trại
Trên địa bàn các xã Đơn Dương, D'Ran, Ka Đô, Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Cát Tiên... nghề chăn nuôi bò sữa đã trở thành sinh kế chính, giúp người dân ổn định cuộc sống. Nếu như trước đây, hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ, chủ yếu phụ thuộc vào kinh nghiệm, thì nay đã có sự thay đổi mạnh mẽ về tư duy sản xuất, góp phần định hình ngành nông nghiệp đặc trưng. Năm 2021, Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã công nhận vùng chăn nuôi bò sữa ứng dụng công nghệ cao đầu tiên thuộc địa bàn huyện Đơn Dương (cũ), với tổng diện tích hơn 10,6 nghìn ha, quy mô tối thiểu từ 10 nghìn con bò sữa.
Gắn bó với nghề hơn 10 năm, ông Nguyễn Tấn Đạt, xã Đơn Dương cho rằng, yếu tố quyết định thành công không chỉ nằm ở kinh nghiệm, mà là tuân thủ nghiêm ngặt quy trình kỹ thuật. Từ khâu chọn giống, chăm sóc, khẩu phần dinh dưỡng đến vệ sinh chuồng trại và phòng bệnh đều phải được kiểm soát chặt chẽ. Ông Đạt chia sẻ: “Hiện giá sữa được doanh nghiệp thu mua ổn định từ 15.000 - 16.000 đồng/lít. Gia đình tôi nuôi 150 con bò, trong đó có 50 con đang cho sữa. Nhờ có hợp đồng bao tiêu, cho nên tôi yên tâm đầu tư dài hạn, cải thiện chất lượng đàn bò, nâng cao năng suất”.
Với tổng đàn hơn 11.000 con, hiện nghề chăn nuôi bò sữa tại xã Đơn Dương đang có bước phát triển đáng kể, thu hút khoảng 500 hộ tham gia. Ông Nguyễn Tiến Mười, cán bộ Trung tâm Dịch vụ tổng hợp xã cho hay: “Phương thức sản xuất đang chuyển dịch từ nhỏ lẻ sang mô hình trang trại, từng bước ứng dụng cơ giới hóa và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng. Việc tiêu thụ thông qua hợp đồng dài hạn với doanh nghiệp đã tạo đầu ra ổn định, giúp người chăn nuôi yên tâm đầu tư, nâng cao chất lượng sản phẩm”.
Tương tự xã Đơn Dương, thời gian qua, nhiều hộ chăn nuôi tại xã D'Ran, Ka Đô, Hiệp Thạnh, Tân Hội... đã mạnh dạn chuyển đổi từ mô hình nhỏ lẻ sang phát triển trang trại. Đây được xem là xu hướng tất yếu trong bối cảnh yêu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm và an toàn thực phẩm, Tại xã D'Ran, mô hình chăn nuôi của gia đình ông Nguyễn Hữu Tuấn là minh chứng rõ nét cho sự chuyển dịch này. Sở hữu hơn 300 con bò sữa, trong đó có hơn 120 con đang khai thác sữa, mỗi ngày trang trại của ông cung ứng từ 2,3 - 2,5 tấn sữa tươi. Để đạt được kết quả này, gia đình ông đã đầu tư hệ thống chuồng trại thông thoáng, áp dụng cơ giới hóa trong nhiều công đoạn như phối trộn thức ăn, vắt sữa và xử lý chất thải. Ông Tuấn cho biết: “Việc áp dụng cơ giới hóa giúp giảm đáng kể chi phí lao động, đồng thời nâng cao năng suất và chất lượng sữa. Nhờ đó, mang lại thu nhập tốt hơn rất nhiều so với trước đây”.
Thực tế cho thấy, sự chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang quy mô trang trại đang diễn ra mạnh mẽ, góp phần nâng cao giá trị sản phẩm sữa tươi. Đây là bước đi phù hợp với định hướng phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Lâm Đồng.
Tái cấu trúc theo hướng công nghệ cao
Theo đánh giá của ngành nông nghiệp Lâm Đồng, ngành chăn nuôi bò sữa tại địa phương đang phát triển theo hướng tập trung, hiện đại với sự tham gia ngày càng sâu của các doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn. Thống kê đến năm 2025, toàn tỉnh có 927 cơ sở chăn nuôi với hơn 26,2 nghìn con bò sữa, sản lượng sữa hơn 106,8 nghìn tấn. Trong đó, số hộ nhỏ lẻ đang giảm dần, thay vào đó là các trang trại quy mô lớn. Toàn tỉnh có 4 chuỗi liên kết thu mua sữa tươi nguyên liệu; 5 doanh nghiệp và 18 trạm thu mua sữa, hơn 95% sản lượng sữa được tiêu thụ thông qua hợp đồng bao tiêu, giúp người chăn nuôi giảm rủi ro về thị trường, yên tâm đầu tư sản xuất. Chi cục trưởng Chăn nuôi và Thú y tỉnh Phạm Phi Long nhận định: “Lâm Đồng có nhiều lợi thế để phát triển chăn nuôi bò sữa như khí hậu mát mẻ, phù hợp với giống bò cao sản; nguồn phụ phẩm nông nghiệp dồi dào, hệ thống liên kết tiêu thụ ổn định. Đây là nền tảng quan trọng để ngành phát triển bền vững”.
Quá trình tái cấu trúc ngành bò sữa tại Lâm Đồng gắn với việc ứng dụng công nghệ cao và phát triển chuỗi giá trị. Nhiều trang trại đã đầu tư hệ thống vắt sữa tự động, hệ thống làm mát chuồng trại, robot đẩy thức ăn; camera giám sát, các thiết bị cảm biến để theo dõi sức khỏe đàn bò; đầu tư hệ thống thu gom, xử lý chất thải chăn nuôi hiện đại bảo đảm an toàn dịch bệnh, môi trường sinh thái... Những công nghệ, thiết bị này giúp nâng cao năng suất lao động và bảo đảm chất lượng sữa theo các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường.
Để phát triển ngành chăn nuôi bò sữa có tính cạnh tranh cao, ngành nông nghiệp tỉnh đã xây dựng đề án phát triển chăn nuôi bò sữa Lâm Đồng giai đoạn 2025-2030. Đề án tập trung quy hoạch vùng chăn nuôi, phát triển trang trại quy mô lớn, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, tăng cường liên kết chuỗi giá trị. Qua đó, bảo đảm duy trì tốc độ tăng đàn bò sữa bình quân 7,3%/năm, đạt quy mô tổng đàn đến năm 2030 hơn 41,1 nghìn con, tương ứng tổng sản lượng sữa tươi theo tiêu chuẩn chất lượng an toàn hơn 161,7 nghìn tấn/năm, hơn 95% sản lượng sữa tươi tiêu thụ theo hợp đồng liên kết chuỗi giá trị. Đến năm 2030, ngành bò sữa đạt tỷ lệ 14-15% giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong cơ cấu toàn ngành nông nghiệp Lâm Đồng.
Việc thu hút đầu tư từ các doanh nghiệp lớn, phát triển công nghiệp chế biến sâu và xây dựng thương hiệu sữa Lâm Đồng được xem là những yếu tố then chốt để ngành phát triển bền vững. Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban nhân dân tỉnh Lê Trọng Yên khẳng định, Lâm Đồng còn nhiều dư địa để phát triển chăn nuôi trang trại, nhất là trang trại quy mô lớn. Tỉnh khuyến khích hình thành các trang trại chăn nuôi bò sữa áp dụng tiến bộ khoa học-kỹ thuật, thực hành quy trình tuần hoàn phát triển chăn nuôi bền vững; tăng cường chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm sữa tươi để ổn định năng suất, tăng lợi nhuận cho người chăn nuôi.
Từ nền tảng sẵn có cùng sự chuyển đổi mạnh mẽ trong tư duy và cách làm, ngành chăn nuôi bò sữa Lâm Đồng đang từng bước phát triển theo hướng hiện đại, quy mô lớn và thân thiện với môi trường. Với sự đồng hành của chính quyền, doanh nghiệp và người dân, ngành bò sữa đang góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, tạo động lực thúc đẩy kinh tế-xã hội địa phương.