NHÌN LẠI NĂM 2025

Nền tảng vận hành chuyển đổi xanh

Năm 2025, biến đổi khí hậu cực đoan hơn, thiên tai dồn dập hơn; nhiều dòng sông tiếp tục ô nhiễm và ở các đô thị lớn, không ít ngày, bầu trời như phủ một lớp sương bụi mịn. Trong khi đó, phát triển xanh trở thành xu thế bắt buộc. Những thách thức đan xen ấy đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực điều hành và hành động.

Ô nhiễm không khí do bụi mịn tại Hà Nội nhiều thời điểm vượt ngưỡng an toàn. (Ảnh: NAM NGUYỄN)
Ô nhiễm không khí do bụi mịn tại Hà Nội nhiều thời điểm vượt ngưỡng an toàn. (Ảnh: NAM NGUYỄN)

Hoàn thiện hành lang pháp lý và nền tảng dữ liệu

Năm 2025 ghi nhận nỗ lực lớn trong hoàn thiện thể chế về tài nguyên, môi trường và khí hậu. Chỉ trong một năm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã trình và ban hành 17 nghị định, 2 nghị quyết của Chính phủ, 2 quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cùng 66 thông tư, bao phủ các lĩnh vực then chốt từ đất đai, khoáng sản, tài nguyên nước, môi trường biển đến giảm phát thải khí nhà kính; cho thấy yêu cầu cấp bách của thực tiễn và quyết tâm xây dựng hành lang pháp lý cho phát triển bền vững.

Một dấu ấn mang tính nền tảng là chuyển đổi số trong quản lý đất đai. Chiến dịch “90 ngày làm giàu, làm sạch cơ sở dữ liệu đất đai” đã giúp cả nước đồng bộ 41,19 triệu/53,72 triệu thửa đất, trong đó 20,55 triệu thửa đạt chuẩn, 32/34 tỉnh, thành phố đã tạo lập mã định danh thửa đất. Đây là lớp dữ liệu gốc giúp minh bạch hóa thị trường đất đai, giảm tranh chấp, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Ở lĩnh vực bảo vệ môi trường, tỷ lệ thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt đạt 97,28% tại đô thị và 83% tại nông thôn; khoảng 95% khu công nghiệp đã có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; 122 cơ sở xử lý chất thải nguy hại hoạt động trên cả nước, với tỷ lệ thu gom, xử lý đạt khoảng 98%.

Năm 2025, Việt Nam tăng tốc triển khai các cam kết về biến đổi khí hậu, như Kế hoạch hành động giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030, Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu, việc xây dựng Thông báo quốc gia lần thứ tư và Báo cáo minh bạch hai năm một lần (BTR1) gửi Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu đã đặt nền móng kỹ thuật và pháp lý cho lộ trình hướng tới Net Zero vào năm 2050… Tuy nhiên, những kết quả đạt được chưa đủ để làm giảm đi tác động khốc liệt của biến đổi khí hậu và vấn đề tồn tại nhiều năm qua. Chỉ riêng trong năm 2025, thiên tai đã làm 420 người chết và mất tích, gây thiệt hại kinh tế ước khoảng 97.115 tỷ đồng; trên Biển Đông xuất hiện 21 cơn bão và áp thấp nhiệt đới, mức cao hiếm thấy trong nhiều năm. Bên cạnh đó, ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn chưa được cải thiện bền vững.

Theo một số chuyên gia, ô nhiễm đô thị phản ánh sự bị động và lúng túng trong quản lý, cứ mỗi đợt bụi mịn ở thành phố, phản ứng phổ biến sẽ là khuyến cáo người dân tự phòng vệ hơn là những biện pháp quản trị nguồn thải đủ mạnh. Cần có kịch bản hành động rõ ràng, mức nào thì “siết” bụi công trình, hạn chế phương tiện giao thông hay mức nào thì kiểm tra đột xuất cơ sở phát thải, phối hợp các địa phương để xử lý nguồn ô nhiễm. Ngoài ra, ô nhiễm nước tại nhiều lưu vực sông liên tỉnh vẫn còn diễn biến phức tạp; trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt, tỷ lệ chôn lấp vẫn còn cao, chiếm khoảng 59%, phân loại rác tại nguồn còn triển khai chậm, cho thấy kinh tế tuần hoàn chưa phổ biến.

Đối với mục tiêu Net Zero, thị trường carbon vẫn chưa hình thành rõ nét. Nhiều địa phương và doanh nghiệp còn lúng túng chuyển hóa mục tiêu giảm phát thải thành dự án cụ thể…

Tăng tốc thực thi chuyển đổi xanh

Bước vào giai đoạn tăng tốc của chuyển đổi xanh, yêu cầu đặt ra đối với ngành là tổ chức thực thi để chính sách đi vào đời sống, tạo chuyển biến đo đếm được trong môi trường, tài nguyên và chất lượng sống của người dân.

Trước hết, cần phải hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ dự án xanh, thúc đẩy tín dụng xanh và đầu tư vào các ngành kinh tế thân thiện với môi trường. Trong quản lý tài nguyên nước - lĩnh vực chịu tác động lớn của biến đổi khí hậu, trọng tâm không còn là xử lý tình huống khi xảy ra hạn hán, xâm nhập mặn hay ô nhiễm, mà phải quản trị rủi ro chủ động, dài hạn theo lưu vực sông. Xây dựng Chiến lược tài nguyên nước quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050; hoàn thiện quy hoạch tài nguyên nước trên các lưu vực sông lớn như Mã, Cả, Vu Gia-Thu Bồn, Ba, Kôn-Hà Thanh, chính là nền tảng để quản lý nước không theo ranh giới hành chính, mà theo quy luật tự nhiên của dòng chảy và hệ sinh thái.

Cùng với quy hoạch, các kế hoạch, chương trình, đề án phục hồi nguồn nước suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm sẽ cần được xây dựng, như thí điểm phục hồi tại các sông Bắc Hưng Hải, Nhuệ, Đáy, Ngũ Huyện Khê để không chỉ xử lý ô nhiễm, mà còn tìm kiếm mô hình quản trị nước bền vững cho các vùng kinh tế trọng điểm.

Việc tổ chức thực hiện Quy hoạch không gian biển quốc gia, Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ cùng với xây dựng Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (thay thế) nhằm tạo hành lang pháp lý đồng bộ, hiện đại hơn cho quản trị biển. Cùng với đó là việc tiếp tục triển khai Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, các chương trình điều tra cơ bản và truyền thông về biển, đại dương đến năm 2030, tầm nhìn 2045, để phát triển đi đôi với bảo tồn và gìn giữ không gian sinh thái biển.

Đối với công tác bảo vệ môi trường, năm 2026 được xác định là năm tăng tốc chuyển từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa và quản lý bền vững.

Đối với công tác bảo vệ môi trường, năm 2026 được xác định là năm tăng tốc chuyển từ xử lý ô nhiễm sang phòng ngừa và quản lý bền vững. Ngành cần phải nâng cao hiệu quả phối hợp liên ngành, liên địa phương trong triển khai Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, nhất là trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt. Trọng tâm là hướng dẫn lộ trình chuyển đổi công nghệ xử lý theo hướng tiên tiến, thân thiện môi trường, phấn đấu giảm tỷ lệ chôn lấp trực tiếp xuống dưới 30% vào năm 2026. Đồng thời, môi trường tại các khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung và cụm công nghiệp cần được tập trung kiểm soát.

Về ô nhiễm không khí, ngành cần tiếp tục triển khai Kế hoạch quốc gia về quản lý chất lượng môi trường không khí giai đoạn 2026-2030; tăng cường quản lý, kiểm soát chất lượng quan trắc, ưu tiên các đô thị thường xuyên có chất lượng không khí kém; công bố kịp thời kết quả quan trắc và cảnh báo cho cộng đồng. Cùng với đó là triển khai Quy hoạch tổng thể quan trắc môi trường quốc gia, rà soát, khoanh vùng và xử lý các khu vực ô nhiễm đất, ô nhiễm nghiêm trọng, hỗ trợ các địa phương xử lý tồn lưu hóa chất bảo vệ thực vật.

Ứng phó biến đổi khí hậu tiếp tục là trục xuyên suốt trong toàn bộ chương trình hành động năm 2026. Ngành cần tập trung nội luật hóa các quy định quốc tế mới về biến đổi khí hậu, chú ý các nội dung liên quan đến thị trường carbon, trao đổi tín chỉ carbon; triển khai Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu; vận hành hệ thống giám sát và đánh giá hoạt động thích ứng cấp quốc gia; lồng ghép nội dung khí hậu vào chiến lược, quy hoạch phát triển...

Theo đồng chí Trần Đức Thắng, Bộ trưởng Nông nghiệp và Môi trường, phát triển xanh và ứng phó biến đổi khí hậu không còn là nhiệm vụ riêng của một ngành mà là yêu cầu xuyên suốt đối với toàn bộ nền kinh tế. Mọi quyết định phát triển trong thời gian tới đều phải gắn với mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Có thể bạn quan tâm

[Video] Chủ động ứng phó hạn hán và xâm nhập mặn

[Video] Chủ động ứng phó hạn hán và xâm nhập mặn

Cục Quản lý và Xây dựng công trình thủy lợi, Bộ Nông nghiệp và Môi trường vừa có văn bản gửi Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh, thành phố khu vực Trung Bộ và Đông Nam Bộ về việc tăng cường thực hiện các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn cho sản xuất nông nghiệp.

Đồng lúa ở vùng đệm Vườn quốc gia Tràm Chim, nơi dừng chân của một số lượng rất lớn các loài chim di cư.

Bảo tồn thiên nhiên ngoài khu bảo tồn

Khi nói đến bảo tồn thiên nhiên, chúng ta thường nghĩ đến các vườn quốc gia hay khu dự trữ sinh quyển. Nhưng trên thực tế, hơn 90% diện tích đất liền của Việt Nam nằm ngoài các khu vực này. Nếu thiên nhiên tồn tại chủ yếu ở bên ngoài, thì cách tiếp cận bảo tồn hiện nay có đang bỏ sót phần quan trọng nhất?

Dự báo khu vực thành phố Đà Nẵng và phía đông các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Đắk Lắk có nắng nóng, có nơi nắng nóng gay gắt. (Ảnh minh họa: ĐT)

Cảnh báo nắng nóng ở khu vực Trung Bộ

Hôm nay (20/4), ở khu vực Thanh Hóa đến thành phố Huế trời nắng, nhiệt độ cao nhất từ 30-33 độ C, có nơi trên 33 độ C, riêng vùng núi phía tây Nghệ An có nơi nắng nóng với nhiệt độ trên 35 độ C.

(Ảnh minh họa)

Đêm nay và ngày mai, khu vực Bắc Bộ, Thanh Hóa và phía tây Nghệ An đề phòng lốc, sét, mưa đá, gió giật mạnh

Dự báo, đêm nay (19/4) và ngày mai, khu vực Bắc Bộ, Thanh Hóa và phía tây Nghệ An có mưa rào và dông rải rác với lượng mưa từ 15-30mm, cục bộ có nơi mưa to trên 70mm. Trong mưa dông có khả năng xảy ra lốc, sét, mưa đá và gió giật mạnh, lũ quét, sạt lở đất trên sườn dốc và tình trạng ngập úng tại các vùng trũng, thấp.

Dự báo viên phân tích dữ liệu trên hệ thống smartmet phục vụ việc ra bản tin dự báo, cảnh báo sớm thiên tai tại Trung tâm Dự báo Khí tượng thủy văn quốc gia. (Ảnh: HOÀI LINH)

Nâng cao năng lực ứng phó thiên tai

Thời gian qua, hệ thống khí tượng thủy văn và phòng, chống thiên tai ở nước ta đã có những bước tiến quan trọng. Các mô hình số trị với độ phân giải cao, vận hành trên siêu máy tính CRAY cho phép cung cấp dữ liệu dự báo thời tiết chi tiết trên lưới tính 3kmx3km.

Một chuyến tuần tra rừng của cán bộ, nhân viên Trạm U Bò.

Nỗ lực giữ xanh rừng di sản

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình Di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Trị) thành Di sản liên biên giới đầu tiên ở Đông Nam Á, công tác quản lý, bảo vệ rừng đặt ra những yêu cầu mới và cao hơn.

Người dân xã Bản Liền, tỉnh Lào Cai tham gia chương trình trồng cây, tháng 8/2025. (Ảnh: TL)

Tạo nguồn lực bảo vệ môi trường

Thời gian qua cho thấy công tác bảo vệ môi trường đã đạt nhiều kết quả tích cực. Tỷ lệ che phủ rừng được duy trì ổn định ở mức 42%. Việc quản lý chất thải rắn sinh hoạt có nhiều chuyển biến, với tỷ lệ thu gom, xử lý đạt 97,28% tại đô thị và 80,5% tại nông thôn.