Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến. Ảnh: Tùng Đinh.
Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến. Ảnh: Tùng Đinh.
Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa giai đoạn 2026-2030 đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản lượng hơn 260 nghìn tấn mỗi năm, với tổng giá trị khoảng 16 nghìn tỷ đồng, tạo việc làm cho hơn 80 nghìn lao động. Việc triển khai đề án góp phần đánh thức giá trị, phát huy tiềm năng lợi thế để phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng có kiểm soát, phù hợp sức tải môi trường, tránh tình trạng phát triển tự phát. Thứ trưởng Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến chia sẻ với phóng viên báo Nhân Dân chung quanh vấn đề này.
Mục tiêu đến năm 2030 đạt giá trị 16 nghìn tỷ đồng/năm
Việt Nam hiện có khoảng gần 8.000 hồ chứa thủy lợi, thủy điện, với tổng thể tích mặt nước rất lớn, khoảng 50 tỷ m3. Đây là một nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, có tiềm năng lớn để phát triển thủy sản theo hướng đa mục tiêu. Một số lợi thế, tiềm năng nổi bật của thủy sản hồ chứa là nguồn lợi thủy sản dồi dào, phong phú. Cùng với đó, diện tích mặt nước rộng, phù hợp phát triển đa dạng đối tượng nuôi, có thể tạo sản lượng lớn, tập trung; gắn chế biến, phục vụ tiêu thụ nội địa và hướng tới đẩy mạnh xuất khẩu, góp phần tạo sinh kế, xóa đói giảm nghèo, nhất là ở các vùng khó khăn,
Chúng ta có thể nhìn lại, trong thời gian qua, một số hồ như Hòa Bình, Sơn La, Tuyên Quang, Thác Bà… đã phát triển nuôi cá lồng, đem lại giá trị kinh tế; hoạt động thả giống tái tạo nguồn lợi bước đầu mang lại hiệu quả, góp phần duy trì sản lượng khai thác tự nhiên. Tuy nhiên, cần thẳng thắn nhìn nhận rằng việc khai thác tiềm năng này chưa tương xứng, với không ít điều được coi là còn tồn tại, như: Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, phân tán; thiếu liên kết chuỗi và thị trường tiêu thụ ổn định; công tác quản lý còn bất cập.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường xác định phát triển thủy sản hồ chứa theo hướng: bền vững - đa giá trị - gắn với sinh kế cộng đồng và bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đồng thời nâng cao giá trị gia tăng thông qua việc tổ chức lại sản xuất và phát triển chuỗi giá trị. Quyết định 707/QĐ-BNNMT ngày 2/3/2026 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xác lập định hướng tổng thể cho phát triển nuôi trồng thủy sản hồ chứa theo hướng bền vững với mục tiêu đến năm 2030 đạt giá trị 16 nghìn tỷ đồng/năm, là căn cứ quan trọng để các địa phương tổ chức lại sản xuất và khai thác hiệu quả tiềm năng mặt nước trong thời gian tới.
Vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa tộc người trên các hồ chứa lớn có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch sinh thái. Ảnh: Thanh Miền.
Vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa tộc người trên các hồ chứa lớn có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch sinh thái. Ảnh: Thanh Miền.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thủy sản đã được quy định tại Luật Thủy sản 2017, đặc biệt tại Điều 7, bao gồm các hành vi mang tính tận diệt, hủy hoại nguồn lợi như sử dụng chất nổ, xung điện, chất độc; sử dụng ngư cụ bị cấm hoặc không đúng quy định; khai thác tại khu vực cấm, thời gian cấm và khai thác các loài chưa đạt kích thước tối thiểu.
Tuy nhiên, tình trạng sử dụng các phương thức khai thác mang tính tận diệt, hủy diệt nguồn lợi như kích điện, chất nổ, ngư cụ mắt lưới nhỏ… vẫn còn diễn ra ở một số khu vực hồ chứa. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm tại các địa phương cũng như nhận thức của một bộ phận người dân còn hạn chế; mặt khác, chúng ta cũng chưa tạo được sinh kế thay thế bền vững cho bà con trong khu vực kể trên. Công tác thi hành xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, thiếu nghiêm minh, chưa có tính răn đe.
Tôi cho rằng bảo vệ nguồn lợi thủy sản là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững thủy sản ở hồ chứa.
Tình trạng này không chỉ làm suy giảm nguồn lợi thủy sản mà còn gây mất cân bằng hệ sinh thái và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế lâu dài của người dân. Đây là hành vi cần được xử lý kiên quyết, không chỉ để bảo vệ nguồn lợi mà còn để bảo đảm kỷ cương trong quản lý tài nguyên thủy sản nội địa.
Vì vậy, tôi cho rằng bảo vệ nguồn lợi thủy sản là điều kiện tiên quyết để phát triển bền vững thủy sản ở hồ chứa.
Để ngăn chặn hiệu quả tình trạng khai thác tận diệt, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp: Hoàn thiện thể chế; rà soát, hoàn thiện quy định pháp luật về khai thác thủy sản nội địa và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản theo hướng tăng tính răn đe và khả thi. Tuyên truyền, vận động người dân nâng cao nhận thức. Tăng cường quản lý và thực thi pháp luật. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chuyên ngành thủy sản với lực lượng công an, chính quyền địa phương trong công tác tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trên các hồ chứa. Đồng thời, cần ứng dụng công nghệ trong giám sát hoạt động khai thác trên các hồ chứa (camera, thiết bị định vị…). Bổ sung nguồn lực, nâng cao năng lực đối với cơ quan, đơn vị được giao thực hiện quản lý, tuần tra, kiểm tra, kiểm soát, xử lý vi phạm tại các địa phương;
Cơ quan chức năng ra quân phá vó lưới vi phạm trên hồ chứa.
Cơ quan chức năng ra quân phá vó lưới vi phạm trên hồ chứa.
Một yếu tố không kém phần quan trọng là cần thúc đẩy mô hình đồng quản lý. Từ đó, hỗ trợ người dân, tổ chức cộng đồng thực hiện đồng quản lý trong bảo vệ nguồn lợi thủy sản theo quy định tại Luật Thủy sản và các văn bản hướng dẫn thi hành. Khi đã hình thành các tổ, nhóm cộng đồng tự quản, cần gắn quyền lợi với trách nhiệm trong bảo vệ tài nguyên.
Cùng với các mô hình quản lý ưu việt và được người dân ủng hộ, đồng hành, một mặt, chúng ta cần quan tâm nhiều hơn nữa tới việc phát triển sinh kế thay thế cho bà con. Khuyến khích nuôi trồng thủy sản trên hồ (nuôi lồng, nuôi bán tự nhiên); hỗ trợ chuyển đổi nghề cho người dân; kết hợp nuôi trồng thủy sản với du lịch sinh thái, dịch vụ để nâng cao hiệu quả kinh tế.
Cốt lõi là chuyển từ quản lý hành chính đơn thuần sang quản trị nguồn lợi dựa vào cộng đồng, gắn trách nhiệm với quyền lợi của người dân.
Việc thu hút doanh nghiệp đầu tư vào thủy sản hồ chứa là cần thiết để nâng cao hiệu quả khai thác và phát triển theo hướng hàng hóa. Tuy nhiên, nguyên tắc xuyên suốt phải là: doanh nghiệp là động lực, nhưng người dân là chủ thể tại chỗ. Việc phát triển phải bảo đảm hài hòa lợi ích và ổn định xã hội tại chỗ. Để hài hòa lợi ích, cần thực hiện các giải pháp như: quy hoạch và phân vùng rõ ràng; xác định cụ thể khu vực nuôi trồng, khai thác, bảo tồn; tránh chồng lấn không gian sử dụng giữa các nhóm đối tượng.
Đồng thời phải minh bạch trong cơ chế giao/thuê mặt nước; công khai, rõ ràng về điều kiện, quyền và nghĩa vụ; bảo đảm công bằng trong tiếp cận tài nguyên. Việc phát triển mô hình liên kết cần tuân thủ: doanh nghiệp liên kết với người dân thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác; chia sẻ lợi ích thông qua hợp đồng bao tiêu, hỗ trợ kỹ thuật. Thực hiện đồng quản lý, để người dân tham gia giám sát hoạt động của doanh nghiệp; tăng cường đối thoại, tránh xung đột lợi ích. Nguyên tắc quan trọng cần tuân thủ, là không đánh đổi sinh kế của cộng đồng để lấy tăng trưởng đơn thuần, mà phải tạo ra giá trị chung và bền vững.
Khai thác du lịch, làm giàu từ nuôi trồng thủy sản trên các hồ chứa lớn ở Việt Nam.
Khai thác du lịch, làm giàu từ nuôi trồng thủy sản trên các hồ chứa lớn ở Việt Nam.
Người dân vui mừng trong mùa thu hoạch năm 2026 sau khi thả hàng chục triệu con cá giống xuống hồ thủy điện Thác Bà.
Người dân vui mừng trong mùa thu hoạch năm 2026 sau khi thả hàng chục triệu con cá giống xuống hồ thủy điện Thác Bà.
Quản trị có trách nhiệm, gắn với sinh kế người dân
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy một số bài học cốt lõi, đó là: quản lý theo hệ sinh thái. Không khai thác vượt ngưỡng sinh thái; không thả nuôi vượt quá sức tải của hồ để tránh ô nhiễm môi trường. Kết hợp bảo tồn, bảo vệ nguồn lợi và khai thác hợp lý.
Các mô hình thành công trên quốc tế cũng cho chúng ta thấy bài học về mô hình đồng quản lý. Cần tổ chức để người dân tham gia trực tiếp vào quản lý tài nguyên; tăng tính tuân thủ và hiệu quả quản lý. Phát triển theo chuỗi giá trị; gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ; chú trọng tăng giá trị thay vì chỉ tăng sản lượng.
Tiếp nữa, tôi muốn nhấn mạnh tới bài học trong ứng dụng khoa học công nghệ: sử dụng con giống chất lượng cao; thức ăn dinh dưỡng phù hợp, an toàn dịch bệnh; áp dụng công nghệ nuôi hiện đại và truy xuất nguồn gốc.
Một số quốc gia như Trung Quốc, Lào, Campuchia đã triển khai hiệu quả các mô hình này. Quan điểm của Việt Nam là tiếp thu có chọn lọc và vận dụng phù hợp điều kiện thực tiễn, đặc biệt là đặc thù quản lý đa mục tiêu và sinh kế cộng đồng tại các hồ chứa.
Việc khai thác, sử dụng mặt nước hồ chứa phải tuân thủ nguyên tắc bảo đảm tuyệt đối an toàn công trình hồ đập; Bảo vệ môi trường, chất lượng nguồn nước và hệ sinh thái thủy sinh; Không làm ảnh hưởng đến nhiệm vụ chính của hồ chứa và an ninh nguồn nước. Mục tiêu tổng thể là xây dựng cơ chế khai thác mặt nước hồ chứa theo hướng hiệu quả, đa mục tiêu nhưng có kiểm soát, bảo đảm tuyệt đối an toàn công trình, an ninh nguồn nước và tuân thủ quy định pháp luật, đồng thời phát huy hiệu quả tiềm năng tài nguyên mặt nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Phát triển thủy sản hồ chứa không chỉ là gia tăng sản lượng, mà là quá trình quản trị tài nguyên nước một cách có trách nhiệm, gắn với sinh kế người dân, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế địa phương theo hướng bền vững. Điều tôi muốn lưu ý là trong thời gian tới, cần tập trung vào các nội dung quan trọng như: hoàn thiện khung pháp lý, bảo đảm thống nhất trong quản lý liên ngành; rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định liên quan theo hướng đồng bộ, tăng cường phân cấp cho địa phương gắn với tăng cường trách nhiệm quản lý của cơ quan chức năng, tổ chức khai thác theo hướng đa mục tiêu có kiểm soát gắn với trách nhiệm bảo vệ công trình, bảo vệ môi trường và nguồn lợi thủy sản; hoàn thiện cơ chế giao, cho thuê quyền khai thác mặt nước bảo đảm công khai, minh bạch, tuân thủ đúng quy định của pháp luật...
Xin cảm ơn Thứ trưởng!
Vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa tộc người trên các hồ chứa lớn có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch sinh thái. Ảnh: Thanh Miền.
Vẻ đẹp thiên nhiên và văn hóa tộc người trên các hồ chứa lớn có tiềm năng lớn trong phát triển du lịch sinh thái. Ảnh: Thanh Miền.
Ông Trần Minh Sáng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai:
Ông Trần Minh Sáng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai.
Ông Trần Minh Sáng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Lào Cai.
Kiên quyết không “bó tay” trước các vi phạm!
Trước tình trạng vi phạm trong khai thác thủy sản được ghi nhận có diễn biến phức tạp trên địa bàn (đặc biệt là khu vực Hồ Thác Bà), ông Trần Minh Sáng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT) tỉnh Lào Cai đã nhấn mạnh: tỉnh không “bó tay” trước các vi phạm.
Ông Trần Minh Sáng nói: “Thời gian qua, trên hồ Thác Bà vẫn còn xảy ra tình trạng sử dụng xung điện và một số loại ngư cụ có tính chất tận diệt để khai thác thủy sản tại một số khu vực, thời điểm nhất định. Tuy nhiên, Sở Nông nghiệp và Môi trường khẳng định rằng các hành vi này không phổ biến trên diện rộng, không mang tính công khai, mà chủ yếu diễn ra lén lút, nhỏ lẻ, tập trung vào ban đêm hoặc tại các khu vực xa khu dân cư, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, kiểm soát.
Mặc dù số vụ việc không nhiều, nhưng đây là những hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng, gây tác động tiêu cực trực tiếp và lâu dài đến nguồn lợi thủy sản và hệ sinh thái thủy sinh. Việc sử dụng xung điện, mìn tự chế hoặc ngư cụ có tính tận diệt không chỉ làm chết cá thương phẩm mà còn hủy hoại cá non, cá giống, các loài thủy sinh khác, làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tái tạo tự nhiên của nguồn lợi thủy sản.
Riêng trong năm 2025, các lực lượng chức năng đã phát hiện, xử lý 13 vụ việc sử dụng kích điện trái phép để khai thác thủy sản; thu giữ nhiều phương tiện, tang vật vi phạm. Bên cạnh đó, Sở cũng đặc biệt chú trọng giải pháp phòng ngừa từ sớm, từ xa, thông qua đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân ký cam kết không sử dụng nghề, ngư cụ cấm; phát huy vai trò của chính quyền cơ sở, các tổ chức đoàn thể và cộng đồng dân cư ven hồ trong việc giám sát, phát hiện, tố giác hành vi vi phạm. Đến nay, phần lớn hộ dân tham gia khai thác, nuôi trồng thủy sản đã ký cam kết không sử dụng nghề, ngư cụ cấm.
Có một thực tế là, các đối tượng vi phạm ngày càng có xu hướng hoạt động tinh vi, liều lĩnh, lợi dụng thời điểm ban đêm, thời tiết xấu và các khu vực khó tiếp cận để thực hiện hành vi vi phạm. Việc mua bán, tàng trữ và sử dụng vật liệu nổ, công cụ kích điện tuy đã được kiểm soát chặt chẽ nhưng vẫn còn diễn ra ngầm, gây khó khăn cho công tác phát hiện, xử lý”.
Về lâu dài, nếu không được kiểm soát và ngăn chặn kịp thời, những hành vi này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế bền vững của người dân ven hồ, làm suy giảm nguồn tài nguyên chung và đi ngược lại mục tiêu phát triển thủy sản theo hướng ổn định, bền vững của địa phương. Chính vì vậy, Sở Nông nghiệp và Môi trường xác định việc phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi khai thác mang tính hủy diệt là nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên, không để xảy ra tình trạng buông lỏng quản lý hay “bó tay” trước các vi phạm trên./.
Ông Nông Việt Yên, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai:
Phát triển du lịch bền vững trên hồ chứa, tránh khai thác quá mức
“Trên cơ sở quy hoạch chung đã được phê duyệt, hiện tỉnh Lào Cai chúng tôi đang tập trung triển khai quy hoạch chi tiết khu vực hồ Thác Bà, với các phân khu cụ thể, để vừa thúc đẩy thu hút đầu tư, vừa làm cơ sở cho công tác quản lý, khai thác hợp lý diện tích mặt nước, kết hợp phát triển giao thông thủy, du lịch sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học. Hồ Thác Bà là hồ thủy điện đầu tiên của Việt Nam, với diện tích mặt nước lên tới khoảng 20 nghìn héc-ta. Việc khai thác tiềm năng du lịch của hồ chứa này, không chỉ dừng ở tham quan mà hướng tới xây dựng chuỗi giá trị du lịch hoàn chỉnh gắn với bản sắc văn hóa của bà con các dân tộc quanh vùng hồ, thuộc cả hai huyện Yên Bình và Lục Yên của tỉnh Yên Bái (cũ).
Về tiến trình phát triển, có thể thấy rõ sự chuyển biến từ khai thác du lịch tự phát sang có quy hoạch bài bản. Trước đây, hoạt động du lịch trên hồ còn nhỏ lẻ, nhưng hiện nay đã hình thành các tuyến điểm nhấn cụ thể, thu hút sự đầu tư, như tuyến từ Cảng Hương Lý đi Động Thủy Tiên, kết hợp tham quan Đền Thác Bà và trải nghiệm tại các bản du lịch cộng đồng ven hồ. Đây là kết quả của quá trình đầu tư đồng bộ về hạ tầng, quản lý và sản phẩm du lịch...
Theo quy hoạch xây dựng khu du lịch quốc gia Hồ Thác Bà đến năm 2040, quy mô quy hoạch rộng tới 53.000ha, gồm 4 phân khu, dự kiến đón tới 1,5 triệu lượt khách vào năm 2030 và lên tới 4,5 triệu lượt khách vào năm 2040. Nơi đây sẽ trở thành một trong những trung tâm du lịch tầm cỡ quốc gia và quốc tế, là điểm đến hấp dẫn của vùng trung du và miền núi bắc bộ, với nhiều sản phẩm độc đáo, mang thương hiệu riêng có của thiên nhiên, văn hóa vùng lòng hồ Thác Bà. Các phân khu sinh thái đảo và quần đảo, phân khu sinh thái Lục Yên rồi các cửa ngõ kết nối giao thông du lịch, với hệ thống cáp treo, sân golf, khu resort tiện nghi mà không tác động nhiều tới cảnh quan sinh thái, công viên khoa học giải trí, tượng khổng lồ được tạo tác trực tiếp vào vách đá nguyên sơ của làng đá… tất cả sẽ là những điểm nhấn để đánh thức vùng lòng hồ Thác Bà hơn nữa. Cùng với các nhiệm vụ phát điện, bảo đảm an ninh hồ chứa, bảo tồn đa dạng sinh học, du lịch sinh thái nghỉ dưỡng là một thế mạnh của Hồ Thác Bà.
Để đánh thức tiềm năng lợi thế trong du lịch sinh thái Hồ Thác Bà của địa phương, việc xây dựng cơ chế thông thoáng, kết nối giao thông, thu hút nhà đầu tư là yếu tố quan trọng. Đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, đường sắt, đường thủy nội địa, kết nối giao thông và các khu đô thị sinh thái vệ tinh đã và đang giúp Hồ Thác Bà tự tin với quy hoạch kể trên. Mặt khác, diện tích lòng hồ lớn, nên việc ưu tiên bảo vệ cảnh quan, di tích, tôn vinh các giá trị thiên nhiên, văn hóa, tộc người sẽ là cơ sở để ra đời các tour tuyến, các điểm nhấn tham quan giàu bản sắc, mang phong cách “Hồ Thác Bà” và núi rừng Tây Bắc.
Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là những yêu cầu quản lý ngày càng cao hơn trong quá trình phát triển bởi hồ Thác Bà có diện tích rộng, nằm trải rộng trên địa bàn nhiều xã, với 1.300 hòn đảo trong lòng hồ. Bên cạnh đó, hồ còn thực hiện nhiều chức năng khác, chứ không riêng gì vai trò phát điện (thủy điện) và du lịch, nên các văn bản chỉ đạo liên quan đến lĩnh vực này, đều nhấn mạnh: phải tăng cường kiểm soát chặt chẽ môi trường nước, quản lý rác thải, bảo vệ rừng đầu nguồn và đảm bảo sinh kế bền vững cho người dân trong khu vực. Đây là những yếu tố then chốt, là bài toán quan trọng để đảm bảo phát triển lâu dài, tránh tình trạng khai thác quá mức di sản, làm suy giảm tài nguyên...”./.
Ông Nông Việt Yên, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai.
Ông Nông Việt Yên, Giám đốc Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Lào Cai.
Xuất bản: Tháng 4/2026
Chỉ đạo: Nguyễn Ngọc Thanh-Phan Thanh Phong
Tổ chức sản xuất: Tuấn Anh-Thảo Lê
Thực hiện: Lam Anh
Trình bày: Hoài Thu