Nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo

Những năm qua, tỉnh Đắk Lắk tập trung triển khai Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đạt được nhiều kết quả tích cực, nhất là trong công tác hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số.

Được sự hỗ trợ từ các mô hình đa dạng hóa sinh kế, nhiều phụ nữ ở Đắk Lắk đã phát triển chăn nuôi, vươn lên thoát nghèo.
Được sự hỗ trợ từ các mô hình đa dạng hóa sinh kế, nhiều phụ nữ ở Đắk Lắk đã phát triển chăn nuôi, vươn lên thoát nghèo.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, đòi hỏi phải có những giải pháp căn cơ, đồng bộ và phù hợp hơn trong giai đoạn 2026-2030.

Nhiều kết quả tích cực

Chi cục trưởng Chi cục Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk Nguyễn Đức Thắng cho biết, trong giai đoạn 2021-2025, trên cơ sở các chủ trương, chính sách của Trung ương, tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong thực hiện công tác giảm nghèo. Các chính sách, dự án, tiểu dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững được triển khai khá đồng bộ, nhất là trong xóa nhà tạm, nhà dột nát và hỗ trợ sinh kế cho người nghèo. Trong 5 năm, tỉnh Đắk Lắk được phân bổ nguồn kinh phí để thực hiện chương trình hơn 1.650 tỷ đồng; trong đó, ngân sách Trung ương là 1.506 tỷ đồng, ngân sách địa phương hơn 142 tỷ đồng; vốn huy động hơn 130 tỷ đồng. Từ nguồn kinh phí này, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhiều dự án, tiểu dự án được triển khai hiệu quả với 507 mô hình giảm nghèo, đa dạng hóa sinh kế và 296 mô hình hỗ trợ phát triển sản xuất, thu hút gần 10.000 hộ nghèo, hộ cận nghèo tham gia. Tại nhiều địa phương trong tỉnh, nhờ sự hỗ trợ sinh kế, nhiều hộ nông dân đã đầu tư chăm sóc vườn cà-phê, hồ tiêu, cây ăn trái và chăn nuôi bò, dê... để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, vươn lên thoát nghèo.

Gia đình chị H'ri Knul, buôn Ea Mắp (thị trấn Ea Pốk, nay là xã Quảng Phú) do thiếu đất sản xuất, việc làm không ổn định cho nên nhiều năm liền thuộc diện hộ cận nghèo. Năm 2024, khi thị trấn Ea Pốk triển khai dự án hỗ trợ nuôi bò sinh sản, chị đã mạnh dạn đăng ký tham gia và được hỗ trợ 2 con bò sinh sản. Nhờ chăm sóc theo đúng hướng dẫn kỹ thuật, giờ đây bò mẹ đã sinh được 1 bê con. Chị H'ri bộc bạch: “Từ ngày được hỗ trợ bò đến nay, được cán bộ hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc cho nên đàn bò sinh trưởng tốt, giúp gia đình có thêm việc làm và điều kiện để vươn lên thoát nghèo”. Tương tự, gia đình ông Y Kha Triêk ở buôn Cuôr Tak, xã Liên Sơn Lắk trước đây cũng thuộc hộ nghèo do thiếu đất sản xuất, phải đi làm thuê, thu nhập bấp bênh. Năm 2024, gia đình ông được hỗ trợ bò sinh sản, giúp có thêm sinh kế. “Làm nông dân nhưng do thiếu đất sản xuất và thiếu vốn cho nên dù cố gắng mấy cũng không thể vươn lên được. Khi được chính quyền địa phương hỗ trợ bò sinh sản, tôi quyết tâm chăn nuôi, áp dụng kỹ thuật được hướng dẫn. Nhờ vậy, kinh tế gia đình dần ổn định, đến năm 2025 đã thoát nghèo”, ông Y Kha Triêk chia sẻ.

Nhờ thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, tỷ lệ hộ nghèo nói chung và tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh giảm mạnh. Kết quả này cho thấy sự chuyển biến rõ nét trong cách tiếp cận giảm nghèo, từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ theo nhu cầu, khả năng của từng hộ, tập trung vào các mô hình sinh kế cụ thể gắn với phát triển hạ tầng thiết yếu, góp phần thay đổi tư duy sản xuất và nâng cao năng lực tự vươn lên của người dân.

Đa dạng hóa mô hình hỗ trợ sinh kế

Theo ông Nguyễn Đức Thắng, mặc dù đạt được những kết quả tích cực, song công tác hỗ trợ sinh kế cho hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn nhiều hạn chế. Đến nay, Đắk Lắc có địa bàn rộng, dân số trên 3,3 triệu người, gồm 47 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 25,4%. Phần lớn đồng bào vẫn canh tác theo phương thức truyền thống, chủ yếu trồng trọt, chăn nuôi ngắn ngày, giá trị kinh tế thấp, khó tích lũy để thoát nghèo bền vững. Bên cạnh đó, toàn tỉnh hiện vẫn còn nhiều xã, thôn, buôn thuộc diện đặc biệt khó khăn, tập trung chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện giao thông, giao thương còn hạn chế, đất đai kém màu mỡ, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu liên kết theo chuỗi giá trị; một số nơi phong tục tập quán lạc hậu còn ảnh hưởng đến tư duy phát triển kinh tế, làm giảm hiệu quả của các mô hình hỗ trợ sinh kế. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số còn tâm lý trông chờ, ỷ lại, chưa thật sự chủ động vươn lên thoát nghèo. Ngoài ra, các mô hình, dự án hỗ trợ phát triển sản xuất thời gian qua tuy có hiệu quả nhất định nhưng còn đơn điệu, chưa đa dạng, chủ yếu tập trung vào trồng trọt, chăn nuôi quy mô nhỏ, giá trị gia tăng thấp, chưa hình thành được vùng sản xuất hàng hóa, chưa gắn với chế biến sâu và thị trường tiêu thụ ổn định. Điều này chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của Đắk Lắk, nhất là đối với các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao. Công tác bố trí, sắp xếp tái định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số cũng còn chậm, một số khu tái định cư xa nơi sản xuất hoặc thiếu đất sản xuất, gây khó khăn cho người dân trong ổn định cuộc sống lâu dài. Trong giai đoạn 2021-2025, tình hình biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, ảnh hưởng nặng nề đến sản xuất và đời sống của nhân dân trên địa bàn tỉnh, nhất là các đợt thiên tai nghiêm trọng xảy ra vào những tháng cuối năm 2025 làm gia tăng nguy cơ tái nghèo...

Bước sang giai đoạn 2026-2030, trong bối cảnh Chính phủ ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia và chuẩn nghèo đa chiều mới, Đắk Lắk xác định công tác hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt. Ông Thắng cho biết, trước mắt tỉnh sẽ tập trung khắc phục hậu quả thiên tai, hỗ trợ người dân sửa chữa, xây dựng nhà ở, cung cấp cây, con giống, vật tư nông nghiệp để nhanh chóng khôi phục sản xuất. Đồng thời khẩn trương triển khai các mô hình, dự án phát triển sản xuất đã được bố trí nguồn lực kết hợp huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội hóa. Về lâu dài, tỉnh Đắk Lắk cần chú trọng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức, khơi dậy ý chí tự lực, tự cường của người dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; từng bước khắc phục tâm lý trông chờ, ỷ lại. Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, coi giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị thường xuyên, chuyển mạnh từ hỗ trợ mang tính cho không sang hỗ trợ phát triển sinh kế, tạo việc làm bền vững. Tỉnh cũng đặt mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội giúp hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản. Các giải pháp tăng thu nhập sẽ được triển khai đồng bộ như rà soát, bố trí đất sản xuất cho hộ nghèo, đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường; tạo điều kiện tiếp cận vốn tín dụng, ưu đãi để đầu tư phát triển sản xuất. Đồng thời, tỉnh sẽ tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện giảm nghèo nhằm bảo đảm tính thực chất, hiệu quả của các chính sách, mô hình hỗ trợ sinh kế...

Có thể bạn quan tâm

Tưới cà-phê tại cánh đồng mẫu ứng dụng công nghệ cao.

Chủ động giữ nguồn sống cho cây trồng

Những ngày cuối mùa khô năm 2026, khi cái nắng Tây Nguyên bắt đầu trở nên gay gắt, những cánh đồng, nương rẫy trên địa bàn xã Đăk Hà, tỉnh Quảng Ngãi vẫn giữ được màu xanh bền bỉ. Đây là cả một quá trình chủ động, bài bản trong công tác quản lý các công trình thủy lợi, điều tiết nước tưới và phòng, chống hạn hán của địa phương.

Các đồng chí lãnh đạo Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk tặng hoa chúc mừng Đại hội.

Đại hội thành lập Hiệp hội Logistics và Cảng biển tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2030

Với thông điệp “Hợp nhất logistics: Chung chuỗi giá trị - Trọn một tầm nhìn”, Đại hội kỳ vọng tạo động lực lan tỏa mạnh mẽ, góp phần hình thành cộng đồng doanh nghiệp logistics năng động, sáng tạo, có trách nhiệm xã hội và hội nhập quốc tế sâu rộng, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Đắk Lắk...

Sản phẩm OCOP do các hợp tác xã vùng cao Quảng Ngãi sản xuất trưng bày, giới thiệu tại các chương trình xúc tiến thương mại và hội chợ nông sản.

Cầu nối quan trọng giúp hình thành vùng sản xuất hàng hóa

Những năm gần đây, tại các xã vùng cao tỉnh Quảng Ngãi, nhiều hợp tác xã, tổ hợp tác không ngừng mở rộng quy mô, thu hút thêm thành viên tham gia sản xuất nông nghiệp theo hướng chuyên nghiệp. Các mô hình kinh tế tập thể từng bước khẳng định vai trò trong việc hình thành chuỗi giá trị nông sản, nâng cao thu nhập cho người dân.

Cần đi tiêm chủng ngay sau khi bị chó, mèo cắn, cào để phòng bệnh dại (Ảnh QUANG NHẬT)

Chủ động phòng chống bệnh dại trong mùa nắng nóng

Đắk Lắk đang vào thời kỳ cao điểm mùa khô, nắng nóng gay gắt khiến bệnh dại diễn biến phức tạp. Những ngày gần đây, trên địa bàn ghi nhận nhiều người bị chó nghi mắc dại tấn công làm dấy lên nỗi lo lắng về nguy cơ lây lan bệnh dại.

Lâm Đồng chú trọng truyền thông bảo đảm an toàn, bình đẳng cho phụ nữ dân tộc thiểu số.

Thúc đẩy bình đẳng giới vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Thời gian qua, cùng với triển khai các chính sách phát triển kinh tế-xã hội, công tác thúc đẩy bình đẳng giới tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng được địa phương quan tâm và có nhiều chuyển biến tích cực, góp phần xây dựng môi trường sống an toàn, tiến bộ trong cộng đồng.

Lâm Đồng chú trọng nâng cấp, phát triển hạ tầng giao thông phục vụ phát triển kinh tế-xã hội.

Động lực tăng trưởng hai con số

Lâm Đồng xác định mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và cả giai đoạn phát triển mới. Tuy nhiên, tình hình kinh tế địa phương trong quý I/2026 xuất hiện nhiều tín hiệu không tốt, lĩnh vực then chốt là công nghiệp-xây dựng tăng trưởng không như kỳ vọng, GRDP đạt 7,47%, thấp hơn kịch bản đề ra.

Nhà nông Lâm Đồng ứng dụng công nghệ tưới trong sản xuất nông nghiệp.

Khoa học, công nghệ nâng tầm nông sản Lâm Đồng

Khoa học, công nghệ là động lực then chốt để Lâm Đồng nâng cao giá trị nông sản. Nhiều mô hình sản xuất tiên tiến được triển khai, giúp giảm chi phí, tăng năng suất và bảo vệ môi trường. Công tác đào tạo, chuyển giao kỹ thuật được chú trọng, giúp nông dân từng bước làm chủ công nghệ, thích ứng với xu thế mới.

“Tri thức trồng và chế biến cà-phê Đắk Lắk” được chứng nhận Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Xác lập vị thế cà-phê Việt Nam

Diễn đàn Di sản cà-phê thế giới năm 2026 với chủ đề “Từ những truyền thống đa dạng đến di sản sống chung của nhân loại” là không gian đối thoại quốc tế cấp cao, làm rõ cách nhìn nhận cà-phê như một “di sản sống”, có khả năng “kết nối con người, cộng đồng, các nền văn minh”, hướng tới trở thành ngôn ngữ chung của hòa hợp, sáng tạo và phát triển bền vững.

Các đơn vị chủ rừng và hạt kiểm lâm ứng dụng flycam để quan sát, quản lý và bảo vệ rừng tại Lâm Đồng.

Ứng dụng công nghệ số trong quản lý, bảo vệ rừng

Lâm Đồng có diện tích rừng lớn nhất cả nước và giáp ranh nhiều tỉnh. Thời gian qua, do tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất rừng ngày càng diễn biến phức tạp, các đơn vị chủ rừng và cơ quan quản lý đã triển khai ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhờ đó ngăn chặn nhiều vụ xâm hại rừng, cháy rừng đồng thời hỗ trợ hiệu quả giám sát đa dạng sinh học.

Người dân xã Tà Đùng tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an xã dụng cụ kích điện dùng khai thác thủy sản trái phép.

Ngăn chặn khai thác thủy sản bằng kích điện

Trước tình trạng một số người dân sử dụng kích điện trong khai thác thủy sản, Công an xã Tà Đùng, tỉnh Lâm Đồng đã triển khai đồng bộ các giải pháp từ tuyên truyền, vận động đến tuần tra, xử lý vi phạm. Qua đó, từng bước nâng cao ý thức người dân, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường sinh thái.

Hiện nay, nhiều địa phương ở Gia Lai đang tích cực tái hiện những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc nhằm thu hút du khách trong nước và quốc tế (Ảnh PHẠM QUÝ)

Tạo sức hút từ du lịch cộng đồng

Giữa nhịp sống hiện đại, cao nguyên Gia Lai vẫn giữ những nét văn hóa nguyên sơ, mộc mạc. Chính sự bình dị ấy trở thành điểm nhấn, hấp dẫn du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm.

Đẩy nhanh tiến độ thi công Cảng hàng không Phù Cát. (Ảnh: HOÀNG QUI)

Quản lý chặt, nâng cao chất lượng xây dựng cơ bản

Ngay từ đầu năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng của tỉnh Gia Lai diễn ra sôi động, công tác quản lý được triển khai quyết liệt, từng bước siết chặt kỷ cương, nâng cao hiệu lực giám sát. Từng dự án, công trình được đánh giá theo các tiêu chí về hiệu quả sử dụng vốn, lợi ích người dân và trách nhiệm với thế hệ tương lai.