Muốn biến tài sản trí tuệ thành nguồn vốn, phải chứng minh được giá trị thương mại

Không phải thiếu phương pháp định giá, rào cản lớn trong thương mại hóa tài sản trí tuệ là thiếu giao dịch thực tế, dữ liệu thị trường và niềm tin của các bên tham gia. Theo chuyên gia WIPO Dixon Soh, tài sản trí tuệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi gắn với hoạt động kinh doanh và khả năng tạo ra dòng tiền.

Muốn biến tài sản trí tuệ thành nguồn vốn, phải chứng minh được giá trị thương mại

Ngày 30/9/2026, Cục Sở hữu trí tuệ phối hợp với Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) tổ chức buổi trao đổi chuyên sâu về cơ chế, chính sách thúc đẩy khai thác, thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Bên lề sự kiện, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ông Dixon Soh, luật sư, chuyên gia tư vấn chiến lược thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ của WIPO, về những điều kiện để đưa tài sản trí tuệ trở thành nguồn lực tài chính, cách thức định giá tài sản vô hình và kinh nghiệm quốc tế trong chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với các tổ chức tín dụng.

Từ văn bằng bảo hộ đến dòng tiền sinh lời

Phóng viên: Để đưa tài sản trí tuệ từ bảo hộ pháp lý ra thị trường, theo ông, cần giải quyết điều gì trước tiên?

Ông Dixon Soh: Để chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ, cần đưa ra minh chứng cho việc xác lập quyền đối với tài sản đó, thường thể hiện dưới dạng văn bằng bảo hộ. Tuy nhiên, văn bằng bảo hộ mới chỉ là điểm xuất phát. Sau khi xác lập quyền, doanh nghiệp phải chuyển tư duy sang khai thác, biến tài sản trí tuệ thành công cụ tạo ra dòng tiền. Khách hàng đến với chúng tôi hiếm khi chỉ hỏi cách bảo vệ tài sản. Câu hỏi lớn nhất của họ là làm sao khai thác tối đa tài sản đó để tăng doanh thu và mở rộng hoạt động kinh doanh.

Trong cuộc đua công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo (AI), một công nghệ đột phá nếu không được bảo hộ và thương mại hóa kịp thời sẽ sớm bị sao chép, khiến doanh nghiệp mất lợi thế cạnh tranh. Vì vậy, khi đã thấy tài sản của mình có thị trường, doanh nghiệp cần dồn nguồn lực, kể cả tài chính, để bảo vệ và khai thác tài sản đó nhanh nhất có thể.

Phóng viên: Nhiều ý kiến cho rằng khó khăn lớn nhất là chưa có quy trình, hướng dẫn riêng để định giá tài sản trí tuệ. Ông nhìn nhận thế nào về vấn đề này?

Ông Dixon Soh: Tôi nghĩ cần nhìn lại những nguyên lý cơ bản. Tài sản trí tuệ thực chất là một loại tài sản vô hình, và định giá tài sản trí tuệ là một trường hợp cụ thể của định giá tài sản vô hình. Các phương pháp cơ bản là cách tiếp cận từ chi phí, từ thị trường và từ thu nhập. Những phương pháp này đã được chuẩn hóa trong Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế (IVS); Việt Nam cũng đã có tiêu chuẩn thẩm định giá (VIS) dành riêng cho tài sản vô hình. Các tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp hoàn toàn đủ năng lực áp dụng các phương pháp này.

Vì vậy, yêu cầu phải thiết kế thêm một quy trình định giá riêng cho tài sản trí tuệ không giúp kết quả chính xác hơn mà chỉ làm phát sinh thêm thủ tục. Càng không nên tách riêng một quy trình cho tài sản hình thành từ ngân sách nhà nước. Nhà nước vẫn có thể chọn mức giá thấp hơn cho loại tài sản này nhằm hỗ trợ nền kinh tế hay thúc đẩy tiến bộ công nghệ; đó là quyền lựa chọn của Nhà nước và không làm thay đổi cách định giá.

Khi ra thị trường, giá trị của một công nghệ được đo bằng khả năng giải quyết vấn đề và tạo ra lợi nhuận. Nguồn vốn hình thành nên tài sản không làm thay đổi phương pháp định giá cũng như giá trị của tài sản đó trên thương trường.

Phóng viên: Nếu không phải phương pháp, vậy điều gì quyết định giá trị của một tài sản trí tuệ?

Ông Dixon Soh: Điều quan trọng nhất là phải có hai bên thực sự mong muốn giao dịch: một bên muốn bán, chuyển giao hoặc cấp phép, và một bên muốn mua, nhận chuyển giao hoặc cấp vốn. Không có giao dịch thì không cần phải ra giá, khi đó chỉ có những con số trên giấy. Tiếp theo là mục đích giao dịch. Cùng một sáng chế, định giá để chuyển nhượng, để cấp li-xăng, để góp vốn hay để làm tài sản bảo đảm khoản vay sẽ cho ra những kết quả khác nhau. Sau cùng là quy mô giao dịch, gồm quy mô thị trường, sản lượng và thời gian khai thác tài sản đó.

Vì thế, rất khó đưa ra ngay một con số bằng cách tra bảng hay áp công thức có sẵn. Chúng tôi phải làm việc sâu với doanh nghiệp để hiểu tài sản đang được sử dụng ra sao, gắn với hoạt động kinh doanh nào và mang lại giá trị gì. Nguyên tắc của tôi là không định giá tài sản trí tuệ một cách đơn lẻ, bởi tài sản trí tuệ là “hệ số nhân” cho cơ hội kinh doanh. Nếu tài sản thực sự có giá trị, lợi nhuận sẽ được nhân lên, và đó là cơ sở để định giá. Ngược lại, nếu báo cáo tài chính cho thấy tài sản không tạo ra (hoặc không có tiềm năng tạo ra) doanh thu hay lợi nhuận thì không có căn cứ để định giá cao.

Phóng viên: Ông có lưu ý gì với bên cấp vốn trước những dự án được gắn “mác” công nghệ hấp dẫn?

Ông Dixon Soh: Lấy một dự án AI làm ví dụ. Cái tên “dự án AI” đang là xu thế, và sức hút đó dễ khiến bên cấp vốn bỏ qua những câu hỏi cốt lõi: ai sở hữu công nghệ và dữ liệu huấn luyện; dự án đã có doanh thu thực chưa; phụ thuộc vào nền tảng của bên thứ ba đến đâu; có dễ bị sao chép không. Điều cần xem xét là thực chất kinh doanh của dự án, chứ không phải tên gọi của công nghệ. Suy cho cùng, công nghệ chỉ mở ra cánh cửa; thứ bên cấp vốn thực sự rót tiền vào là hoạt động kinh doanh.

Giải ngân từng đợt, rủi ro chia đôi

Phóng viên: Ngân hàng nên dựa vào đâu để cấp tín dụng và kiểm soát rủi ro?

Ông Dixon Soh: Khung pháp lý về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đã đầy đủ, song ngân hàng không thể chỉ căn cứ vào thông tin trên văn bằng bảo hộ để cấp tín dụng. Văn bằng bảo hộ cho chúng ta biết quyền đã được xác lập, nhưng không cho biết quyền đó có tạo ra tiền hay không. Ngân hàng cần xem xét sản phẩm đã đi vào thực tế chưa, có đáp ứng nhu cầu thị trường không, có dòng tiền không. Khi tài sản trí tuệ gắn với một hoạt động kinh doanh có dòng tiền, ngân hàng sẽ có cơ sở vững chắc hơn để cho vay.

Không doanh nghiệp nào hoàn toàn không có rủi ro. Vấn đề không phải là ai gánh rủi ro, mà là làm thế nào để giảm thiểu rủi ro. Thị trường của mỗi quốc gia đang ở một giai đoạn khác nhau. Bước đầu thường là cơ chế bảo lãnh do Nhà nước hậu thuẫn, trong đó Nhà nước gánh phần lớn rủi ro thay cho bên cho vay, để ngân hàng chấp nhận cho vay trên cơ sở tài sản bảo đảm là quyền sở hữu trí tuệ. Singapore đã bắt đầu theo cách này với Chương trình tài trợ Sở hữu trí tuệ, còn Malaysia hiện nay vẫn áp dụng mô hình bảo lãnh tương tự.

Khi ngân hàng đã tích lũy được kinh nghiệm và lòng tin, họ tiến dần tới cách làm của Vương quốc Anh - một trong những thị trường phát triển hơn về hình thức cho vay dựa trên tài sản trí tuệ. Các ngân hàng tại Anh nhận chính tài sản trí tuệ làm tài sản bảo đảm.

Tài sản được định giá ngay từ đầu và được định giá lại định kỳ trong suốt thời hạn vay, dựa trên kết quả kinh doanh thực tế. Khi doanh nghiệp làm ăn tốt, giá trị tài sản trí tuệ tăng lên sau mỗi lần định giá lại, và ngân hàng sẵn sàng cho vay thêm. Ngân hàng kiểm soát rủi ro từng bước, còn doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn lớn hơn khi chứng minh được giá trị tài sản của mình.

Phóng viên: Ông đánh giá thế nào về đề xuất thành lập Quỹ bảo lãnh tài sản trí tuệ?

Ông Dixon Soh: Có sự hỗ trợ, bảo lãnh của Nhà nước là không sai. Nhưng nếu dùng 100% ngân sách để bảo lãnh rủi ro cho các khoản vay thương mại, tức là dùng tài sản công phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, của tư nhân, thì sẽ dễ tạo áp lực xã hội. Một giải pháp cho vấn đề này là mô hình đồng bảo lãnh công-tư theo tỷ lệ 50:50: ngân hàng bỏ ra một đồng, Nhà nước bảo lãnh một đồng, trách nhiệm quản trị rủi ro chia đều. Sự tham gia của vốn công cũng buộc toàn bộ quá trình cấp vốn phải minh bạch. Đây là một phương án Việt Nam có thể cân nhắc.

Cần dữ liệu và cơ chế, hơn là thêm văn bản

Phóng viên: Theo ông, Việt Nam nên ưu tiên những giải pháp nào?

Ông Dixon Soh: Theo tôi, nên ưu tiên 4 nhóm giải pháp chính.

Thứ nhất, khuyến khích xây dựng cơ sở dữ liệu về giao dịch tài sản trí tuệ, kể cả tỷ lệ phí bản quyền theo từng lĩnh vực. Tuy nhiên, việc sử dụng thông tin về giá cần bảo đảm minh bạch, đúng quy định, dựa trên sự tự nguyện và tính trung thực của bên cung cấp. Thực tế, các bên thường e ngại chia sẻ những điều khoản giao dịch mang tính nhạy cảm về thương mại, nên hướng khả thi là sử dụng dữ liệu đã ẩn danh và tổng hợp, tức là chuẩn tham chiếu theo ngành chứ không nêu đích danh từng giao dịch. Nếu mọi giao dịch đều diễn ra khép kín và không được ghi nhận, chuyên gia, thẩm định viên về giá sẽ không thể áp dụng phương pháp so sánh thị trường.

Thứ hai, nâng cao năng lực thẩm định giá cho cán bộ của các trung tâm chuyển giao công nghệ, viện nghiên cứu, trường đại học, huy động cả chuyên gia quốc tế và chuyên gia trong nước.

Thứ ba, lựa chọn một số doanh nghiệp đã thương mại hóa thành công tài sản trí tuệ làm “điển hình” để chia sẻ cách xây dựng chiến lược và huy động vốn.

Thứ tư, khung pháp lý của Việt Nam đã khá đầy đủ và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế. Ở những thị trường mới tiếp cận hình thức tài trợ bằng tài sản trí tuệ, điều mất nhiều thời gian nhất là có đủ niềm tin để sử dụng khung pháp lý đã có. Đây không phải đặc thù riêng của Việt Nam mà là điều xảy ra với mọi thị trường. Trong giai đoạn đầu, bên cho vay và nhà đầu tư đều lạ lẫm với tài sản trí tuệ; chỉ khi có những giao dịch đầu tiên thành công, niềm tin mới dần được gây dựng. Điều cần làm trước hết là giúp những người làm chính sách, ngân hàng, quỹ đầu tư và chuyên gia có thêm niềm tin, để khung pháp lý sẵn có được áp dụng vào thực tế.

Tóm lại, phương pháp đã có, chuyên gia cũng đã có, dù chưa nhiều. Điều thị trường cần là những tài sản trí tuệ có giá trị thương mại thực, dẫn tới những giao dịch thực, cùng với dữ liệu minh bạch và một cơ chế đủ an toàn để các bên yên tâm đặt bút ký.

Phóng viên: Xin cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại cuộc họp cập nhật tiến độ Dự án ODA “Nâng cao năng lực giám định hài cốt trong chiến tranh thông qua hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận trang thiết bị, hóa chất, vật tư tiêu hao”. (Ảnh: Mai Lan)

Cập nhật tiến độ dự án nâng cao năng lực giám định ADN hài cốt liệt sĩ

Ngày 21/10, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp Ủy ban quốc tế về Người mất tích (ICMP) tổ chức cuộc họp cập nhật tiến độ Dự án ODA “Nâng cao năng lực giám định hài cốt trong chiến tranh thông qua hợp tác phát triển, chuyển giao công nghệ và tiếp nhận trang thiết bị, hóa chất, vật tư tiêu hao”.

Tập huấn về chuyển đổi số cho cán bộ, đoàn viên xã Tuyên Lâm, tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: HG)

Quảng Trị thí điểm hỗ trợ nhân lực chuyển đổi số cho cấp xã

Tại buổi làm việc trực tiếp kết hợp trực tuyến với các ngành, địa phương, doanh nghiệp về nâng cao chất lượng nhiệm vụ khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới đây, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị yêu cầu nhanh chóng triển khai thí điểm mô hình hỗ trợ nhân lực chuyển đổi số cho cấp xã. 

Hội nghị hướng tới gắn nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn, đưa kết quả khoa học vào sản xuất, kinh doanh và tạo ra các sản phẩm có giá trị trên thị trường. (Ảnh: MST)

Thúc đẩy liên kết viện-trường-doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển Khoa học và Công nghệ

Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ diễn ra ngày 23/10/2026 sẽ tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn trong liên kết giữa các bên, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam.

Lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ tham quan các gian hàng tại Lễ kỷ niệm hưởng ứng Ngày Chuyển đổi số quốc gia năm 2026. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Thúc đẩy liên kết viện, trường và doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển công nghệ

Ngày 23/10, Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển khoa học và công nghệ sẽ tập trung làm rõ những điểm nghẽn trong hợp tác, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển sản phẩm công nghệ Việt Nam.

Hội chợ hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu trên môi trường số năm 2026 (tradexpo.arobid.com) là hoạt động bổ trợ cho Hội chợ Hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu 2026 (HCMC EXPORT 2026) diễn ra trực tiếp từ ngày 22-24/10. (Ảnh: Arobid.com)

Ứng dụng AI và dữ liệu lớn trong xúc tiến thương mại số

Hội chợ hàng Việt Nam tiêu biểu xuất khẩu trên môi trường số năm 2026 diễn ra từ ngày 20-29/10, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường và nâng cao hiệu quả xúc tiến thương mại theo mô hình kết hợp trực tiếp với trực tuyến (O2O).

Các nhà khoa học nữ chụp ảnh kỷ niệm cùng Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại buổi lễ. (Ảnh: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam)

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tôn vinh những đóng góp của phụ nữ

Nhân kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930-20/10/2026), ngày 19/10, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (Viện Hàn lâm) tổ chức Lễ kỷ niệm Ngày Phụ nữ Việt Nam và Tọa đàm “Sức khỏe tinh thần và cân bằng công việc - cuộc sống của phụ nữ trong môi trường làm việc hiện đại”.

Hai bên thống nhất đẩy mạnh các chương trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ lượng tử chất lượng cao. (Ảnh: MINH DUY)

FPT và Quandela ký kết hợp tác phát triển công nghệ lượng tử

Tối 19/10, tại trụ sở Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, đã diễn ra lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực công nghệ lượng tử giữa Tập đoàn FPT và Công ty Quandela (Pháp). Sự kiện đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa định hướng hợp tác chiến lược giữa hai quốc gia về khoa học và công nghệ tiên tiến.

Hội thảo do Hội Thông tin khoa học và công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (NATIS) tổ chức. (Ảnh: HÀ TUẤN)

Thương mại hóa công nghệ sinh học: Cân bằng tiềm năng, lợi nhuận và rủi ro

Nhiều chuyên gia, nhà quản lý đều nhấn mạnh sự cần thiết đẩy mạnh lĩnh vực kinh tế sinh học tại Việt Nam hiện nay. Mô hình tăng trưởng dựa trên thâm dụng vốn, lao động giá rẻ và tài nguyên thô đang dần chạm tới ngưỡng, đòi hỏi phải chuyển dịch mô hình sang chiều sâu, dựa trên tri thức, đổi mới sáng tạo, giá trị gia tăng cao.

Quang cảnh Lễ trao giải cuộc thi chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ 6. (Ảnh: T.Trang)

Phát huy vai trò của nhà khoa học xã hội và nhân văn trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Bằng các bài viết tâm huyết, trách nhiệm, các nhà khoa học xã hội và nhân văn đã sử dụng lý luận khoa học để phản bác các luận điểm sai trái của thế lực thù địch một cách triệt để và thuyết phục, đồng thời tích cực tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên, đặc biệt là nhà khoa học trẻ.

Lãnh đạo Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh tham quan thiết bị bay không người lái ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp. (Ảnh: THANH PHONG)

Tây Ninh tạo đột phá từ khoa học, công nghệ và chuyển đổi xanh

Tây Ninh xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gắn với chuyển đổi xanh, kinh tế tuần hoàn là động lực đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Với các giải pháp đồng bộ, Tây Ninh hướng tới mục tiêu phát triển nhanh, bền vững giai đoạn 2025-2030.