Một số quy định cụ thể về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất

Các quy định cụ thể về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất được quy định tại Nghị định 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 của Chính phủ quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai (sau đây gọi tắt là Nghị định 101/2024/NĐ-CP).
Ảnh minh họa. (Ảnh: LÊ VIỆT)
Ảnh minh họa. (Ảnh: LÊ VIỆT)

Điều 18 Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định "một số quy định cụ thể về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất"

1. Nội dung đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất lần đầu gồm:

a) Thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý gồm tên, giấy tờ nhân thân, pháp nhân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý;

b) Thông tin về thửa đất gồm số thửa đất, số tờ bản đồ, địa chỉ, diện tích, loại đất, hình thức sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và các thông tin khác về thửa đất; thông tin về tài sản gắn liền với đất gồm loại tài sản, địa chỉ, diện tích xây dựng, diện tích sàn, diện tích sử dụng, hình thức sở hữu, thời hạn sở hữu và các thông tin khác về tài sản gắn liền với đất;

c) Yêu cầu về đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất hoặc quyền quản lý đất hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất, tài sản gắn liền với đất;

d) Các yêu cầu khác của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai (nếu có).

2. Nội dung đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất gồm:

a) Thông tin về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý gồm tên, giấy tờ nhân thân, pháp nhân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý;

b) Thông tin về thửa đất gồm số thửa đất, số tờ bản đồ, địa chỉ, diện tích, loại đất, hình thức sử dụng đất, nguồn gốc sử dụng đất và các thông tin khác về thửa đất; thông tin về tài sản gắn liền với đất gồm loại tài sản, địa chỉ, diện tích xây dựng, diện tích sàn, diện tích sử dụng, hình thức sở hữu, thời hạn sở hữu và các thông tin khác về tài sản gắn liền với đất;

c) Thông tin về nội dung biến động quy định tại khoản 1 Điều 133 của Luật Đất đai và lý do biến động;

d) Các yêu cầu khác của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất phù hợp với quy định của pháp luật về đất đai (nếu có).

3. Hình thức đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất

Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý thực hiện việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất theo hình thức đăng ký trên giấy hoặc bằng phương tiện điện tử.

4. Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người được giao đất để quản lý, người nhận chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật trực tiếp thực hiện việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất hoặc thực hiện việc đăng ký thông qua người đại diện theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là người yêu cầu đăng ký).

5. Trường hợp cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho tổ chức đang sử dụng đất quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 142 của Luật Đất đai mà quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất là tài sản công theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công thì thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai mà không chờ đến khi sắp xếp lại, xử lý xong tài sản công.

6. Trường hợp người yêu cầu đăng ký có nhu cầu thực hiện đồng thời nhiều thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất thì các cơ quan giải quyết thủ tục có trách nhiệm liên thông với các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết.

7. Trường hợp sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư thông qua việc thỏa thuận về nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 127 của Luật Đất đai thì việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho chủ đầu tư được thực hiện sau khi chủ đầu tư hoàn thành thủ tục về đất đai để thực hiện dự án theo quy định của pháp luật.

8. Đối với tài sản là nhà ở, công trình xây dựng gắn liền với đất đã được chứng nhận quyền sở hữu trên Giấy chứng nhận đã cấp thì khi giải quyết thủ tục đăng ký biến động, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc đăng ký trên cơ sở thông tin về tài sản trên Giấy chứng nhận đã cấp, trừ trường hợp chủ sở hữu tài sản có yêu cầu đăng ký thay đổi tài sản; chủ sở hữu tài sản chịu trách nhiệm trước pháp luật trong việc thực hiện giao dịch nếu tài sản đã có thay đổi so với Giấy chứng nhận đã cấp.

9. Trường hợp đang trong quá trình giải quyết thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không tiếp tục thực hiện thì người có quyền và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật dân sự nộp giấy tờ chứng minh để tiếp tục thực hiện thủ tục.

Trường hợp chưa xác định được người tiếp tục thực hiện thủ tục hoặc người tiếp tục thực hiện thủ tục không thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm cập nhật vào Sổ địa chính.

10. Đối với thửa đất của cá nhân, hộ gia đình đang sử dụng khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu thì cơ quan có thẩm quyền quy định tại điểm b khoản 1 Điều 136 của Luật Đất đai quyết định diện tích đất ở được công nhận theo hạn mức giao đất ở cho cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 195 và khoản 2 Điều 196 của Luật Đất đai hoặc hạn mức công nhận đất ở quy định tại khoản 5 Điều 141 của Luật Đất đai mà không phụ thuộc vào số thành viên trong hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất.

11. Quy định về ghi nợ tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất được thực hiện như sau:

a) Đối tượng được ghi nợ tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu là cá nhân, hộ gia đình đang sử dụng đất có nhu cầu ghi nợ và người nhận thừa kế theo quy định của pháp luật có nhu cầu ghi nợ thì được tiếp tục ghi nợ;

b) Mức tiền sử dụng đất được ghi nợ đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản này là toàn bộ số tiền sử dụng đất phải nộp tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

c) Trình tự, thủ tục ghi nợ, thanh toán, xóa nợ tiền sử dụng đất, thời hạn nợ tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân được ghi nợ tiền sử dụng đất quy định tại khoản này được thực hiện theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;

d) Trường hợp người được giao đất tái định cư thì việc ghi nợ tiền sử dụng đất thực hiện theo quy định tại Nghị định quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;

đ) Việc ghi nợ tiền sử dụng đất cho đối tượng quy định tại điểm a khoản này được áp dụng trong thời hạn từ ngày 1/8/2024 đến hết ngày 31/7/2029, việc thanh toán, xóa nợ tiền sử dụng đất được thực hiện theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.

Có thể bạn quan tâm

Các bị cáo tại phiên xét xử.

Vụ án trục lợi bảo hiểm tại Công ty LanQ: Không nhận tiền "hoa hồng" nhưng chỉ đạo nhân viên nhận

Chiều 28/1, phiên tòa xét xử sơ thẩm bị cáo Phạm Văn Cách (cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Dược phẩm Sơn Lâm) cùng bị cáo Nguyễn Mạnh Quyền (cựu Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc Công ty LanQ) trong vụ án trục lợi bảo hiểm xã hội tiếp tục với phần xét hỏi.

Phó Cục trưởng Cục Bổ trợ tư pháp (Bộ Tư pháp) Nguyễn Tấn Cường phát biểu tại tọa đàm. (Ảnh: TL)

Bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất về quản tài viên

Việc ban hành Nghị định nhằm bảo đảm cơ sở pháp lý đầy đủ, thống nhất để triển khai thực hiện hiệu quả, đồng bộ các quy định của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 trong bối cảnh đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển hoạt động hành nghề quản lý, thanh lý tài sản ổn định, bền vững.

Công an xã Văn Lãng tặng quà và thư khen cho người dân giao nộp vũ khí tại trụ sở.

Cách làm sáng tạo của Công an xã Văn Lãng

Để tăng hiệu quả trong công tác an ninh trật tự trên địa bàn, Công an xã Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã triển khai việc thực hiện mô hình, cách làm khi người dân giao nộp, đổi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ sẽ được lực lượng công an tặng quà và trao thư khen.

Bộ đội Biên phòng Hải Phòng thu giữ container chứa than cục không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc hợp pháp.

Quyết liệt trấn áp tội phạm trên tuyến biên giới biển, cửa khẩu cảng trong đợt cao điểm

Sắp đến Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, lợi dụng nhu cầu vận chuyển hàng hóa tăng cao, tình hình tội phạm trên tuyến biên giới biển, cửa khẩu cảng Hải Phòng tiềm ẩn nhiều diễn biến khó lường, các hoạt động vi phạm pháp luật gia tăng, nhất là buôn lậu, gian lận thương mại và vận chuyển trái phép chất ma túy.

Tấn (bìa trái), Quý và Thật (bìa phải) tại phiên tòa. (Ảnh: VĂN VŨ)

An Giang: Giết người do mâu thuẫn từ việc kêu mở cửa không được

Ngày 27/1, Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tuyên phạt Danh Quý (24 tuổi) 24 năm tù về tội “Giết người” và tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”; Danh Tấn (30 tuổi) 16 năm tù về tội “Giết người”; Đoàn Văn Thật (24 tuổi) 7 tháng 5 ngày tù về tội “Che giấu tội phạm” (bằng thời gian tạm giam và được trả tự do ngay tại phiên tòa).

Quang cảnh phiên họp. (Ảnh: TL)

Tạo cơ chế đặc thù phát triển ngành dầu khí trở thành ngành mũi nhọn

Luật Dầu khí được đề xuất sửa đổi tập trung vào năm nhóm chính sách lớn, nhằm nâng cao hiệu quả khai thác tài nguyên gắn với bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; tạo động lực tăng trưởng mới, khơi thông nguồn lực, góp phần bảo đảm chủ quyền trên biển và an ninh năng lượng quốc gia.