Mở “van” tín dụng cho công trình trọng điểm

Việc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đề xuất nới cơ chế cấp tín dụng vượt giới hạn đối với các dự án lớn, trọng điểm tại Thủ đô Hà Nội đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của giới hoạch định chính sách và thị trường tài chính.

Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Hà Nội.
Trụ sở Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Hà Nội.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho hạ tầng ngày càng gia tăng, đây được xem là một bước điều chỉnh mang tính kỹ thuật nhưng có tác động chiến lược: Vừa mở rộng dư địa vốn cho tăng trưởng, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn về quản trị rủi ro hệ thống.

Tháo "nút thắt" vốn cho các dự án quy mô lớn

Theo dự thảo sửa đổi, bổ sung một số quy định tại Quyết định số 09/2024/QĐ-TTg về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp tín dụng vượt giới hạn, Ngân hàng Nhà nước đề xuất cho phép các tổ chức tín dụng được cấp tín dụng vượt giới hạn trong một số trường hợp, đặc biệt đối với các dự án lớn, quan trọng trên địa bàn Hà Nội theo Nghị quyết số 258/2025/QH15 của Quốc hội, với mức tối đa không quá 38% vốn tự có đối với một khách hàng và 52% đối với nhóm khách hàng liên quan. Đây là mức cao hơn đáng kể so với quy định hiện hành của Luật Các tổ chức tín dụng, vốn đang khống chế ở mức 13% và 21% (và tiếp tục giảm theo lộ trình).

Sự điều chỉnh này phản ánh một thực tế: Quy mô các dự án hạ tầng chiến lược ngày càng lớn, vượt xa khả năng tài trợ đơn lẻ theo các “trần” tín dụng truyền thống. Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, với quy mô vốn tự có hiện nay của các ngân hàng thương mại lớn, dư địa cho vay theo cơ chế mới là rất đáng kể. Chẳng hạn, với vốn tự có của Vietcombank là hơn 222 nghìn tỷ đồng và VietinBank là hơn 229 nghìn tỷ đồng, mỗi ngân hàng này có thể cấp tín dụng lên tới khoảng 87 nghìn tỷ đồng cho một khách hàng, hoặc khoảng 119 nghìn tỷ đồng cho nhóm khách hàng liên quan.

Trong khi đó, theo ước tính của Bộ Tài chính, nhiều dự án trọng điểm tại Hà Nội có tổng mức đầu tư khoảng 300 nghìn tỷ đồng, nhu cầu vay vốn lên tới 85% (tương đương 255 nghìn tỷ đồng). Như vậy, nếu không có cơ chế linh hoạt, bài toán vốn cho các dự án này gần như không thể giải bằng kênh tín dụng ngân hàng đơn thuần.

Thực tiễn cho thấy, tín dụng ngân hàng vẫn là nguồn lực chủ đạo trong tài trợ các dự án hạ tầng tại Việt Nam. Các dự án lớn như Thủy điện Sơn La, Thủy điện Lai Châu, Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 hay gần đây là Nhiệt điện Quảng Trạch 1 đều đã từng được áp dụng cơ chế cấp tín dụng vượt giới hạn với mức tương tự đề xuất hiện nay. Gần đây, mô hình hợp vốn giữa các ngân hàng thương mại tiếp tục được đẩy mạnh. Điển hình là dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội, với tổng mức đầu tư hơn 85 nghìn tỷ đồng, được tài trợ bởi liên danh nhiều ngân hàng lớn.

Phó Tổng Giám đốc BIDV Đoàn Việt Nam cho biết, trong điều kiện thị trường vốn trong nước chưa phát triển tương xứng, tín dụng ngân hàng vẫn đóng vai trò “bà đỡ” cho các dự án hạ tầng. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vốn ngày càng lớn, việc kết hợp đa dạng các kênh huy động, từ trái phiếu, vốn quốc tế đến các quỹ tài chính xanh là xu hướng tất yếu. Còn ở góc độ tổ chức tín dụng, cơ chế nới trần tín dụng không chỉ giúp giải bài toán vốn trước mắt, mà còn tạo điều kiện để các ngân hàng nâng cao năng lực thu xếp vốn, phát triển các sản phẩm tài trợ dự án theo chuẩn quốc tế.

Động lực cho tăng trưởng thủ đô và lan tỏa vùng

Đề xuất nới trần tín dụng cần được đặt trong một bức tranh lớn hơn, đó là chiến lược phát triển Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn mới. Theo các định hướng đã được xác lập, Hà Nội đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân hơn 11%/năm trong giai đoạn 2026-2030, quy mô GRDP đạt hơn 113 tỷ USD vào năm 2030, thu nhập bình quân đầu người tối thiểu 12.000 USD. Để đạt được các mục tiêu này, hệ thống hạ tầng từ giao thông, năng lượng đến đô thị thông minh phải đi trước một bước. Điều đó đồng nghĩa với nhu cầu vốn khổng lồ, không thể chỉ dựa vào ngân sách nhà nước.

Trong bối cảnh đó, cơ chế tín dụng vượt trần có thể đóng vai trò “đòn bẩy”, kích hoạt dòng vốn tư nhân, thúc đẩy mô hình đối tác công - tư (PPP), đồng thời tạo hiệu ứng lan tỏa sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế.

Mặc dù vậy, việc nới trần tín dụng cũng đặt ra câu hỏi, liệu có làm gia tăng rủi ro tập trung tín dụng trong hệ thống ngân hàng? Hiện nay, Luật Các tổ chức tín dụng sửa đổi đã thiết kế lộ trình giảm dần tỷ lệ cho vay đối với một khách hàng và nhóm khách hàng liên quan xuống mức 10% và 15% vào năm 2030 nhằm hạn chế rủi ro tập trung và phân tán tín dụng. Trong khi đó, cơ chế mới lại cho phép “vượt trần” lên tới 38% và 52% trong một số trường hợp đặc biệt. Đây là một nghịch lý chính sách cần được xử lý cẩn trọng.

Ngân hàng Nhà nước khẳng định, việc xem xét khoản cấp tín dụng vượt giới hạn sẽ được thực hiện rất chặt chẽ, bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định pháp lý hiện hành. Tuy nhiên, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, rủi ro không nằm ở quy định trên giấy, mà ở khâu thực thi: Thẩm định dự án, quản trị rủi ro và nhất là kỷ luật thị trường. Nếu các dự án không đạt hiệu quả như kỳ vọng, hệ quả sẽ không chỉ dừng ở một ngân hàng mà có thể lan sang toàn hệ thống, nhất là trong bối cảnh các khoản vay thường được cấp theo hình thức hợp vốn.

Ngoài ra, một điểm đáng lưu ý là dù tín dụng ngân hàng đóng vai trò chủ lực, nhưng không thể và không nên là nguồn vốn duy nhất cho hạ tầng. Phó Vụ trưởng Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) Phạm Thị Thanh Tâm cho biết, cơ quan này đang đề xuất sửa đổi toàn diện Luật Quản lý nợ công để tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn trong huy động nguồn vốn bằng trái phiếu Chính phủ; đồng thời phát triển mạnh thị trường trái phiếu và cải thiện hệ số tín nhiệm quốc gia để huy động vốn từ thị trường quốc tế với chi phí hợp lý. Song song đó, cơ chế PPP cũng cần được cải cách theo hướng thực chất hơn, nhất là cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu - một yếu tố then chốt để thu hút nhà đầu tư tư nhân.

Mục tiêu đến năm 2026, vốn hóa thị trường chứng khoán đạt ít nhất 100% GDP là một chỉ dấu quan trọng cho thấy định hướng chuyển dịch dần từ mô hình “tín dụng dẫn dắt” sang “thị trường vốn dẫn dắt”. Nói cách khác, nới trần tín dụng chỉ là giải pháp ngắn và trung hạn. Về dài hạn, cấu trúc vốn của nền kinh tế phải được tái cân bằng, giảm phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.

Nhìn tổng thể, đề xuất nới cơ chế cấp tín dụng vượt giới hạn là một bước đi hợp lý trong bối cảnh hiện nay, giúp tháo gỡ điểm nghẽn vốn cho các dự án trọng điểm, tạo động lực tăng trưởng và nâng cấp hạ tầng. Tuy nhiên, chính sách này chỉ có thể phát huy hiệu quả khi đi kèm với các điều kiện như: Lựa chọn dự án nghiêm ngặt, theo đó chỉ áp dụng với các dự án thật sự có ý nghĩa kinh tế-xã hội, có dòng tiền rõ ràng; nâng chuẩn quản trị rủi ro, nhất là thẩm định tín dụng và giám sát sau cho vay; phát triển thị trường vốn song hành để giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Nếu không, việc “mở van” tín dụng có thể trở thành con dao hai lưỡi. Làm sao vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, đó là bài toán đặt ra đối với nhà điều hành.

Có thể bạn quan tâm

Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) đề xuất cắt giảm thủ tục trùng lặp, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn đầu tư công. (Ảnh: KC)

Gỡ chồng chéo trong quản lý ngân sách và đầu tư công

Một khoản vốn đầu tư công từ ngân sách nhà nước đang phải thực hiện theo hai quy trình quản lý, phát sinh trùng lặp về hồ sơ, thủ tục và thẩm quyền. Dự thảo Luật Ngân sách nhà nước (hợp nhất) đề xuất thống nhất 2 quy trình, đồng thời gắn phân bổ nguồn lực với đánh giá hiệu quả kinh tế-xã hội và tăng cường kỷ luật ngân sách.

Nhà của nhiều hộ dân trở thành hầm sâu sau khi nâng đường Đặng Thùy Trâm, phường Bình Lợi Trung. (Ảnh: VÕ LÊ)

Hệ lụy sau nâng đường

Đường được nâng lên để chống ngập, nhưng nếu cao độ mặt đường, nhà dân và hệ thống thoát nước không được thiết kế đồng bộ, công trình có thể tạo ra những hệ lụy về an toàn, sinh hoạt và mỹ quan đô thị đồng thời chuyển ngập từ mặt đường vào nhà dân.

Phương tiện lưu thông dày đặc trên đường Trường Chinh, khu vực thi công nhà ga ngầm tuyến Metro số 2 Bến Thành-Tham Lương. (Ảnh: VÕ LÊ)

Thành phố Hồ Chí Minh nỗ lực xử lý ùn tắc giao thông

Trong bối cảnh nhiều công trình lớn trên địa bàn Thành phố đồng loạt triển khai, việc điều chỉnh tổ chức giao thông linh hoạt, theo thời gian thực sẽ góp phần giảm áp lực đi lại hằng ngày, thay vì phải chờ đến khi các dự án hạ tầng hoàn thành mới có thể cải thiện tình hình.

Trạm thu phí Bến Thủy tạm dừng thu phí từ ngày 20/10/2026.

Tạm dừng thu phí tại hai trạm BOT Bến Thủy trong 30 ngày

Sáng 18/10, Cục Đường bộ Việt Nam cho biết việc quyết định tạm dừng thu phí dịch vụ sử dụng đường bộ tại Trạm thu phí Bến Thủy và Trạm thu phí Bến Thủy 2 từ 0 giờ ngày 20/10/2026 trong thời hạn 30 ngày, do nhà đầu tư và doanh nghiệp dự án chậm khắc phục các hư hỏng trên tuyến, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông.

[Video] Tiền gửi ngân hàng lập kỷ lục

[Video] Tiền gửi ngân hàng lập kỷ lục

Theo số liệu được Ngân hàng Nhà nước công bố, đến hết tháng 8, tổng tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng đạt khoảng 17,77 triệu tỷ đồng, tăng hơn 310.000 tỷ đồng so với tháng trước đó, tương ứng mức tăng 1,78%.

THACO AUTO xuất khẩu lô xe buýt ghế ngồi cao cấp sang Philippines tại cảng Chu Lai.

Hướng đi cho bán dẫn Việt Nam

Ưu tiên sản phẩm nào, làm chủ phần giá trị nào và ai sẽ mua chip Việt Nam? Đó là những vấn đề đặt ra để phát triển sản phẩm bán dẫn gắn với thị trường, nâng cao năng lực công nghệ và tạo giá trị trong nước.

Khơi dậy tinh thần phụng sự quốc gia

Khơi dậy tinh thần phụng sự quốc gia

Để có vị thế và thương hiệu ở tầm quốc gia, doanh nghiệp, doanh nhân cần gắn liền sứ mệnh của mình với sứ mệnh phát triển đất nước. Nhất là đối với những bài toán lớn, khi một mình Nhà nước thực hiện là bất khả thi.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì gặp mặt đại biểu doanh nghiệp tiêu biểu nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10/2026.

Doanh nhân Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới

Trải qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có tính lịch sử, từ một nước nghèo, trình độ sản xuất lạc hậu, manh mún trở thành nước có thu nhập trung bình cao, đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện. 

Khu nhà ở dành cho công nhân Công ty TNHH Luxshare-ICT Nghệ An. (Ảnh: TRUNG HIẾU)

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp

Quy mô càng lớn, trách nhiệm của doanh nghiệp đối với người lao động và cộng đồng càng cao. Từ chăm lo việc làm, nhà ở, phúc lợi đến bảo vệ môi trường, hỗ trợ sinh kế và an sinh xã hội, nhiều doanh nghiệp coi trách nhiệm xã hội là một nội dung quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của đơn vị mình.

Hòa Phát nhiều năm qua luôn kiên định lấy sản xuất thép làm cốt lõi và đang mở rộng vào các sản phẩm thép chất lượng cao.

Làm chủ công nghệ, sản phẩm thép chiến lược

Với Tập đoàn Hòa Phát, lựa chọn tập trung phát triển sản xuất vào các sản phẩm thép, từ thép cuộn cán nóng (HRC), thép chất lượng cao đến ray đường sắt và thép đặc biệt là một cách tham gia đóng góp vào quá trình hình thành năng lực công nghiệp của quốc gia.

Các doanh nghiệp muốn tham gia sâu vào chuỗi giá trị rất cần nguồn vốn trung dài hạn. (Ảnh: KHÁNH ANH)

Doanh nghiệp lớn vốn phải dài

Đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị đòi hỏi doanh nghiệp có nguồn vốn ổn định trong nhiều năm. Tuy nhiên khi tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo, còn các kênh huy động vốn dài hạn chưa phát triển tương xứng, nhu cầu “lớn lên” của doanh nghiệp tiếp tục đối mặt sức ép về kỳ hạn và chi phí.

Điều cộng đồng doanh nghiệp mong đợi

Điều cộng đồng doanh nghiệp mong đợi

Từ tháng 4/2026 đến nay, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã bốn lần tổng hợp và chuyển tới các bộ, ngành hơn 210 kiến nghị, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp. 

Ngài Thomas Gass, Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền Liên bang Thụy Sĩ tại Việt Nam. Ảnh: Đại sứ quán Thụy Sĩ cung cấp.

Củng cố tin cậy, mở rộng hợp tác Việt Nam-Thụy Sĩ

Từ nền tảng quan hệ ngoại giao được thiết lập năm 1971, Việt Nam và Thụy Sĩ đang mở rộng hợp tác kinh tế, tài chính, khoa học và công nghệ. Đại sứ Thomas Gass khẳng định việc ký kết FTA Việt Nam-EFTA là cột mốc quan trọng, thể hiện cam kết chung về thương mại minh bạch và hợp tác dựa trên các chuẩn mực quốc tế.

Doanh nghiệp Việt Nam: Khát vọng kiến tạo và dẫn dắt phát triển

Doanh nghiệp Việt Nam: Khát vọng kiến tạo và dẫn dắt phát triển

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, phát huy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất đang đặt doanh nghiệp trước một không gian phát triển rộng lớn hơn, đồng thời cũng đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn.

Dây chuyền sản xuất hiện đại tại Tổng công ty cổ phần Phong Phú.

Chuyển hướng vì mục tiêu cao hơn

Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, đồng thời hướng tới một nền kinh tế có năng suất cao hơn, kinh tế số phát triển mạnh hơn và năng lực cạnh tranh ngày càng được nâng cao.