Lời giải mới cho bài toán giao thông thông minh ở Việt Nam

Để rút ngắn khoảng cách với thế giới về giao thông thông minh (ITS), thách thức của Việt Nam không chỉ nằm ở việc lắp thêm camera, mà còn ở khả năng biến dữ liệu quan sát được thành lời giải: dòng phương tiện di chuyển giữa các khu vực như thế nào và cần tổ chức giao thông ra sao.

Camera giao thông ghi nhận phương tiện trên các tuyến đường, cung cấp dữ liệu đầu vào phục vụ phân tích nhu cầu di chuyển. (Ảnh: Viettel ITS).
Camera giao thông ghi nhận phương tiện trên các tuyến đường, cung cấp dữ liệu đầu vào phục vụ phân tích nhu cầu di chuyển. (Ảnh: Viettel ITS).

Từ những mô hình thành công trên thế giới đến lời giải cho giao thông Việt Nam

Trên thế giới, các đô thị tiên tiến từ lâu đã sử dụng dữ liệu nhu cầu đi lại để hiểu dòng giao thông, phục vụ quy hoạch và lựa chọn phương án tổ chức giao thông. Tại Stockholm (Thụy Điển), mô hình nhu cầu kết hợp với lựa chọn tuyến đường đã giúp dự báo và triển khai thành công việc thu phí ùn tắc, kéo giảm 20% lượng xe ra vào khu trung tâm trong giai đoạn thử nghiệm.

Trong khi đó, tại London (Anh), cơ quan quản lý giao thông sử dụng các mô hình phân tích nhu cầu và phân bổ dòng phương tiện lên mạng lưới đường để tính toán lưu lượng, thời gian chậm trễ và hỗ trợ quy hoạch dài hạn. Dù cách triển khai khác nhau, các thí dụ này đều cho thấy: dữ liệu nhu cầu đi lại chỉ thực sự có giá trị khi được chuyển thành căn cứ cho những quyết định về tổ chức giao thông.

Từ việc nghiên cứu những mô hình thành công, đội ngũ phát triển phân hệ Quản lý nhu cầu giao thông Viettel ITS nhận ra một bài học then chốt: muốn tổ chức giao thông tốt thì trước hết phải hiểu nhu cầu di chuyển giữa các khu vực và cách các dòng phương tiện phân bổ trên mạng lưới, thay vì chỉ tập trung xử lý các điểm ùn tắc trước mắt.

Theo các chuyên gia của Viettel Solutions, Việt Nam hoàn toàn có thể học hỏi cách tiếp cận của quốc tế, nhưng không thể áp dụng máy móc một mô hình được xây dựng cho điều kiện giao thông khác. Giao thông đô thị nước ta có lưu lượng xe máy rất lớn, cách thức di chuyển linh hoạt, cùng với mạng lưới ngõ và đường nhỏ dày đặc. Ở những vị trí có camera quan sát, cơ quan quản lý có thể biết một nút giao đông đến mức nào và có bao nhiêu xe đi qua. Thế nhưng, số liệu tại một vị trí chưa đủ để trả lời các dòng phương tiện đến từ khu vực nào, đang hướng về đâu hay chỉ đi xuyên qua khu vực đang ùn tắc.

Hơn nữa, một phương tiện có thể xuất hiện trên camera ở trục đường chính, sau đó rẽ vào một con ngõ không có giám sát rồi lại xuất hiện ở một vị trí hoàn toàn khác. Hệ thống không thể coi hai lần xuất hiện đứt đoạn đó là một hành trình hoàn chỉnh. Việc chỉ kết nối các điểm camera lại với nhau để dựng bản đồ di chuyển sẽ gặp nhiều vấn đề khi dữ liệu không phủ kín mọi tuyến đường.

Từ thực tế đó, bài toán đặt ra cho đội ngũ kỹ sư Viettel là làm thế nào để nối lại những dấu vết di chuyển chưa đầy đủ, xác định các chuyến đi có khả năng đã diễn ra, rồi tổng hợp thành nhu cầu di chuyển giữa các vùng đô thị. Để thực hiện, hệ thống cần kết hợp dữ liệu camera với các phương pháp phân tích và ước lượng phù hợp với điều kiện giao thông Việt Nam.

Vượt “điểm mù” dữ liệu để tái hiện hành trình phương tiện

Để xây dựng ma trận nguồn-đích (O-D), Viettel ITS phải giải một bài toán không đơn giản: làm thế nào để biết các phương tiện di chuyển từ đâu đến đâu khi hệ thống camera không thể quan sát toàn bộ hành trình? Lời giải nằm ở việc kết hợp 3 công nghệ, giúp biến những dữ liệu giao thông rời rạc thành bức tranh tổng thể về nhu cầu di chuyển trong đô thị.

Trước hết, hệ thống chia đô thị thành các vùng giao thông dựa trên đặc điểm địa lý, mật độ dân cư và mạng lưới đường sá. Những khu vực có đặc điểm tương đồng được nhóm lại, đồng thời bảo đảm quy mô diện tích và dân số phù hợp. Việc phân chia này tạo cơ sở để xác định nhu cầu di chuyển giữa các vùng, thay vì chỉ nhìn vào từng tuyến đường hay nút giao riêng lẻ.

Bước tiếp theo cũng là một trong những thách thức quan trọng nhất: tái hình thành chuyến đi từ dữ liệu camera bị gián đoạn. Chẳng hạn, một chiếc xe được camera ghi nhận tại điểm A, sau đó đi qua nhiều tuyến đường không có camera trước khi xuất hiện tại điểm B. Hệ thống sẽ dựa trên thời gian ghi nhận, khoảng cách và đặc điểm mạng lưới đường để đánh giá liệu hai lần xuất hiện có thuộc cùng một chuyến đi hay không. Những lần ghi nhận cách nhau quá lâu hoặc không hợp lý về thời gian di chuyển sẽ được tách thành các chuyến khác nhau.

giao-thong-thong-minh.jpg
Hình thể hiện một phương tiện được ghi nhận qua nhiều camera khác nhau, sau đó các thông tin được kết hợp để tái dựng hành trình trên bản đồ.

Với những đoạn hành trình không được camera quan sát, hệ thống tiếp tục phân tích các tuyến đường mà phương tiện có khả năng đã đi qua. Bằng cách đối chiếu thời gian di chuyển và dữ liệu giao thông thực tế, công nghệ sẽ lựa chọn lộ trình có khả năng xảy ra cao nhất để khôi phục phần hành trình còn thiếu. Nhờ đó, những lần xuất hiện tưởng chừng rời rạc có thể được kết nối thành các chuyến đi có cơ sở, thay vì đơn thuần giả định phương tiện luôn chọn con đường ngắn nhất.

giao-thong-thong-minh.png
Công nghệ của Viettel ITS cho phép phân tích các dữ liệu camera gián đoạn để ước lượng hành trình có khả năng xảy ra của phương tiện, phục vụ xây dựng ma trận O-D.

Cuối cùng, khi dữ liệu quan sát đủ để phục vụ việc ước lượng, các chuyến đi được tổng hợp theo vùng xuất phát, vùng đích và từng khung thời gian để hình thành ma trận O-D ban đầu. Hệ thống tiếp tục đối chiếu với lưu lượng phương tiện thực tế tại các tuyến đường và nút giao, lần lượt điều chỉnh cách phân bổ dòng xe lên các tuyến và số chuyến đi giữa các vùng. Quá trình này được lặp lại nhằm thu hẹp chênh lệch giữa kết quả tính toán và số liệu quan sát.

Thay vì chỉ biết có bao nhiêu phương tiện đi qua một vị trí, ma trận O-D giúp cơ quan quản lý ước lượng dòng phương tiện di chuyển giữa những khu vực nào, với quy mô ra sao và thay đổi như thế nào theo từng khung thời gian. Những thông tin này tạo thêm căn cứ để đánh giá nhu cầu đi lại và áp lực giao thông trên mạng lưới đường đô thị.

Chẳng hạn, nếu lượng xe từ các khu dân cư đổ về trung tâm tăng mạnh trong giờ cao điểm, ma trận O-D giúp nhận diện những luồng di chuyển tạo áp lực lên các tuyến kết nối. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định các khu vực cần ưu tiên, xem xét phương án phân luồng và tổ chức giao thông phù hợp hơn với nhu cầu thực tế.

Từ việc phân chia vùng giao thông, tái hình thành chuyến đi đến tổng hợp và kiểm tra kết quả ước lượng, Viettel ITS từng bước chuyển dữ liệu camera phân tán thành thông tin có thể sử dụng để phân tích nhu cầu di chuyển đô thị.

Ở phạm vi giải pháp giao thông thông minh tổng thể, năm 2026, Viettel ITS đoạt Giải Vàng tại Giải thưởng Kinh doanh quốc tế (IBA) ở hạng mục Giải pháp Giao thông, Giải Bạc Globee Awards for Technology và danh hiệu “Best of Category” dành cho sản phẩm, dịch vụ công nghệ phục vụ Chính phủ và khu vực công.

Thành công của Viettel ITS cho thấy, việc học hỏi các mô hình tiên tiến trên thế giới không đồng nghĩa với sao chép nguyên mẫu. Điều quan trọng là khả năng làm chủ, điều chỉnh và phát triển công nghệ phù hợp với thực tiễn Việt Nam, từ đó tạo ra những giải pháp thiết thực cho bài toán giao thông đô thị.

Có thể bạn quan tâm

Sinh viên Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh trao đổi tri thức chuyên ngành.

Đổi mới sáng tạo trong khoa học xã hội và nhân văn

Trong kỷ nguyên công nghệ, với sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, các nghiên cứu nếu chỉ dừng ở việc mô tả hiện tượng, tổng hợp tài liệu, lặp lại những khung lý thuyết quen thuộc ít có khả năng tác động vào đời sống thì khoảng cách giữa nghiên cứu và thực tiễn sẽ ngày càng lớn. 

Khu trưng bày các sản phẩm chuyển đổi số của thành phố Hà Nội tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam (xã Đông Anh, Hà Nội).

Bắt đầu từ những việc người dân cần

Từ phản ánh về vệ sinh môi trường, tra cứu nguồn gốc bữa ăn học đường đến thực hiện thủ tục hành chính, nhiều địa phương đang ứng dụng công nghệ để giải quyết những việc người dân cần. Hiệu quả của các mô hình gắn với quy trình thuận tiện, trách nhiệm xử lý rõ ràng và sự hỗ trợ để người dân sử dụng được dịch vụ số.

Các đại biểu chuẩn bị làm lễ cắt băng khai trương Văn phòng đại diện của Công ty FPT tại thủ đô Cairo, Ai Cập. (Ảnh: Đại sứ quán Việt Nam tại Ai Cập cung cấp)

Dấu mốc mới trong hợp tác khoa học-công nghệ giữa Việt Nam và Ai Cập

Ngày 13/10, Công ty FPT đã chính thức tổ chức Lễ khai trương Văn phòng đại diện tại thủ đô Cairo, Ai Cập. Sự kiện đánh dấu mốc quan trọng trong chiến lược mở rộng quy mô toàn cầu của FPT tại khu vực Trung Đông và châu Phi, đồng thời góp phần thắt chặt mối quan hệ hợp tác kinh tế, khoa học-công nghệ giữa Việt Nam và Ai Cập.

Triển lãm các sản phẩm, kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực vật liệu, bán dẫn và vật lý ứng dụng tại Triển lãm thành tựu khoa học và công nghệ của Đại học Bách khoa Hà Nội. (Ảnh: HÀ LINH)

Triển khai xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược

Việc xác nhận sản phẩm công nghệ chiến lược sẽ được triển khai đối với các sản phẩm đã được phát triển, thương mại hóa. Các sản phẩm đăng ký được đánh giá theo những tiêu chí về công nghệ, tác động đối với kinh tế-xã hội hoặc quốc phòng, an ninh và lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Vì sao các quốc gia đầu tư xây dựng hạ tầng điện toán lượng tử?

Vì sao các quốc gia đầu tư xây dựng hạ tầng điện toán lượng tử?

Từ tìm ra vật liệu mới cho pin, nghiên cứu phân tử để phát triển thuốc đến giải những bài toán tối ưu phức tạp trong sản xuất, máy tính lượng tử được kỳ vọng mở thêm khả năng tính toán cho con người. Vì tiềm năng ấy, Mỹ và các nước châu Âu đang đầu tư hàng chục tỷ USD, xây dựng máy tính và đào tạo người sử dụng.

Thông điệp của Ngày Tiêu chuẩn thế giới 2026. (Ảnh: ST)

Hưởng ứng Ngày Tiêu chuẩn thế giới 2026: Vì mục tiêu phát triển bền vững

Ngày 14/10 hằng năm là Ngày Tiêu chuẩn thế giới, được Ủy ban Kỹ thuật Điện quốc tế (IEC), Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) và Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) lựa chọn nhằm tôn vinh sự đóng góp của hàng nghìn chuyên gia, tổ chức trên toàn cầu trong xây dựng, phát triển và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế.

Việt Nam đăng cai Hội nghị Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ASEAN lần thứ 90 và các hội nghị liên quan tại Đà Nẵng. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Việt Nam đăng cai Hội nghị khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ASEAN lần thứ 90

Từ ngày 13-15/10, Bộ Khoa học và Công nghệ đăng cai tổ chức Hội nghị lần thứ 90 của Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo ASEAN (COSTI-90) và các hội nghị liên quan tại thành phố Đà Nẵng. Hội nghị dự kiến quy tụ khoảng 250 đại biểu, tập trung thảo luận các ưu tiên hợp tác nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của khu vực.

Cục Sở hữu trí tuệ hỗ trợ, tư vấn trực tiếp về sở hữu trí tuệ tại sự kiện. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Giới thiệu sáng chế và tư vấn sở hữu trí tuệ tại Tây Ninh

Từ hệ nano giúp giảm khoảng 10 lần lượng kháng sinh trong chăn nuôi gà đến phụ gia tiết kiệm nhiên liệu, nhiều sáng chế đã được giới thiệu tới doanh nghiệp và người dân Tây Ninh trong các ngày diễn ra Ngày hội khoa học, công nghệ của tỉnh Tây Ninh. Song song, Cục Sở hữu trí tuệ thực hiện gần 50 lượt tư vấn về sở hữu trí tuệ.

FPT ra mắt chương trình đào tạo Thạc sĩ Công nghệ thông tin định hướng Trí tuệ nhân tạo vạn vật (MIT-AIoT) nhằm đáp ứng nhu cầu đội ngũ nhân lực chất lượng cao có khả năng xây dựng các hệ thống AIoT thông minh, an toàn. Ảnh: FSB.

Đào tạo nhân lực làm chủ hệ thống thông minh trong kỷ nguyên AI

Trí tuệ nhân tạo (AI) và Internet vạn vật (IoT) đang mở ra nhiều cơ hội phát triển các hệ thống sản xuất, đô thị và dịch vụ thông minh, đồng thời đặt ra yêu cầu mới về an toàn thông tin. Việc đào tạo đội ngũ nhân lực có khả năng thiết kế, tích hợp và vận hành các hệ thống này đang trở thành một bài toán quan trọng.

Đoàn công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ khảo sát tại Trung tâm Phục vụ Hành chính công tỉnh Quảng Trị. (Ảnh: Bộ Khoa học và Công nghệ)

Tháo gỡ điểm nghẽn chuyển đổi số, lấy hiệu quả phục vụ làm thước đo

Sau hơn hai tháng triển khai đợt cao điểm 100 ngày, Bộ Khoa học và Công nghệ đã hoàn thành nhiều nhiệm vụ về thể chế, kết nối dữ liệu, tái cấu trúc thủ tục hành chính và bảo đảm an toàn hệ thống. Yêu cầu trong thời gian còn lại là đưa các kết quả này vào vận hành thực chất, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Quang cảnh chương trình Cơ hội hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược. (Ảnh: HÀ LINH)

Gắn nghiên cứu công nghệ năng lượng với nhu cầu doanh nghiệp

Ngày 10/10, trong khuôn khổ chuỗi sự kiện chào mừng kỷ niệm 70 năm thành lập Đại học Bách khoa Hà Nội, Viện Công nghệ năng lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội) tổ chức chương trình Cơ hội hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm chiến lược.