Logistics “khát” 350.000 nhân lực: Nhà trường đồng hành cùng doanh nghiệp

Không chỉ thiếu về số lượng, ngành logistics hiện thiếu đội ngũ lao động có đủ năng lực số để thích ứng với xu thế quản trị hiện đại. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc gắn kết chặt chẽ hơn giữa nhà trường và doanh nghiệp nhằm đào tạo nguồn nhân lực "làm được việc" ngay khi tốt nghiệp.

Phát triển kỹ năng chuyển đổi số từ giảng đường Đại học

Việt Nam hiện là một trong những thị trường logistics phát triển nhanh nhất khu vực, với tốc độ tăng trưởng bình quân từ 14 đến 16% mỗi năm và quy mô thị trường khoảng 40 đến 42 tỷ USD. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của ngành đang kéo theo áp lực rất lớn về nhân lực.

Theo các chuyên gia, từ nay đến năm 2035, ngành logistics có thể cần thêm hơn 350.000 lao động, nhưng nguồn cung hiện chỉ đáp ứng khoảng 10% nhu cầu. Hiện chỉ khoảng 5 đến 7% lao động hiện nay được đào tạo bài bản, khiến hơn 85% doanh nghiệp phải đào tạo lại sau tuyển dụng. Đáng chú ý, khoảng cách giữa chương trình đào tạo và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp vẫn còn khá lớn.

asxh-42.jpg
Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tham gia tuyển dụng sau khi sinh viên tốt nghiệp thì hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào toàn bộ quá trình đào tạo.

Tại Chương trình Bàn tròn Giảng viên VALOMA số 4 với chủ đề "Chia sẻ kinh nghiệm chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục đào tạo ngành Logistics và Quản lý chuỗi cung ứng tại Việt Nam" do Hiệp hội Phát triển nguồn nhân lực Logistics Việt Nam (VALOMA) phối hợp Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Trường đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 27/6 tại Hà Nội. Bà Vũ Thị Thu Huyền, Giám đốc Chi nhánh miền bắc, Công ty Cổ phần Giải pháp Chuỗi cung ứng Smartlog cho biết, phần lớn sinh viên có nền tảng lý thuyết tốt nhưng thiếu trải nghiệm vận hành trên các hệ thống quản trị thực tế như TMS, WMS, ERP, cũng như kỹ năng phân tích dữ liệu. "Nếu sinh viên được thực tập đúng vị trí công việc, được tiếp cận dữ liệu thật và tham gia các dự án thực tế ngay từ khi còn học, thời gian thích nghi sau khi tuyển dụng có thể giảm từ khoảng một năm xuống chỉ còn ba đến bốn tháng", bà Huyền chia sẻ.

dsc-5173.jpg
Bên cạnh kỹ năng công nghệ, sinh viên cần có khả năng kết nối giữa bộ phận nghiệp vụ với bộ phận công nghệ thông tin, có tư duy chiến lược và khả năng thích ứng liên tục trước sự thay đổi của công nghệ. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Không chỉ thiếu kỹ năng chuyên môn, doanh nghiệp còn cần những nhân sự logistics có tư duy dữ liệu, khả năng phối hợp liên phòng ban, kỹ năng giải quyết vấn đề và tinh thần học hỏi liên tục trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh. Theo bà Huyền, doanh nghiệp hiện tìm kiếm ba nhóm năng lực cốt lõi gồm kiến thức chuyên ngành logistics, năng lực số và tư duy giải quyết vấn đề. Đây cũng là những nội dung cần được tích hợp mạnh mẽ hơn trong chương trình đào tạo đại học.

Một trong những giải pháp được nhiều trường đại học triển khai là đưa hệ sinh thái công nghệ số vào toàn bộ quá trình đào tạo. Tiến sĩ Trần Thị Hương, Phó Trưởng khoa Quản lý, Trường Kinh tế, Đại học Bách khoa Hà Nội cho biết sinh viên tại trường không còn chỉ học qua giáo trình mà trực tiếp vận hành các phần mềm doanh nghiệp như SAP ERP, SAP S/4HANA, SAP Transportation Management, AnyLogic, Arena hay Tecnomatix. Thông qua các bài toán mô phỏng trung tâm phân phối, vận tải, kho hàng hoặc trò chơi mô phỏng chuỗi cung ứng Business Builders, sinh viên được trải nghiệm toàn bộ quy trình quản trị logistics trong môi trường gần với thực tế doanh nghiệp. Đặc biệt, việc khai thác SAP Analytics Cloud giúp người học hình thành năng lực phân tích dữ liệu, xây dựng dashboard và kể chuyện bằng dữ liệu, những kỹ năng đang ngày càng được doanh nghiệp coi trọng.

2aoboqgr7rn5fnndo19hkipdifjtrihfjbyknpm8.jpg
Nếu sinh viên được thực tập đúng vị trí công việc, được tiếp cận dữ liệu thật và tham gia các dự án thực tế ngay từ khi còn học, thời gian thích nghi sau khi tuyển dụng có thể giảm từ khoảng một năm xuống chỉ còn ba đến bốn tháng. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Trong khi đó, Trường đại học Công nghiệp Hà Nội đã xây dựng hệ sinh thái đại học điện tử với hơn 6.700 chức năng phần mềm, chuẩn hóa hơn 500 quy trình quản trị và phát triển hệ thống hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu. Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Mai Anh, Trưởng Khoa Kinh doanh số, Trường Kinh tế, Đại học Công nghiệp Hà Nội, quá trình số hóa không chỉ phục vụ công tác quản trị mà còn tạo môi trường để giảng viên và sinh viên hình thành tư duy làm việc trên nền tảng dữ liệu, hướng tới mô hình đại học thông minh ứng dụng AI và Big Data.

Ở góc độ chương trình đào tạo, Tiến sĩ Nguyễn Văn Trường, Trường đại học Giao thông Vận tải cho rằng nhiều trường đại học đã bắt đầu đưa các học phần như phân tích dữ liệu chuỗi cung ứng, mô hình hóa, mô phỏng, AI hay tối ưu hóa vận tải vào chương trình giảng dạy. Tuy nhiên, ông cũng thẳng thắn nhìn nhận đào tạo đại học mới chỉ có thể cung cấp nền tảng phương pháp luận. Để đáp ứng tốc độ chuyển đổi số của doanh nghiệp, người học bắt buộc phải tiếp tục cập nhật kiến thức trong suốt quá trình làm việc.

1.jpg
Các sinh viên tìm hiểu về cơ hội việc làm ngành logistics tại Ngày hội việc làm.

Nhà trường đồng hành cùng doanh nghiệp

Nếu trước đây doanh nghiệp chủ yếu tham gia tuyển dụng sau khi sinh viên tốt nghiệp thì hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào toàn bộ quá trình đào tạo. Bà Vũ Thị Thu Huyền, Giám đốc Chi nhánh miền bắc, Công ty Cổ phần Giải pháp Chuỗi cung ứng Smartlog đề xuất bốn hướng hợp tác gồm mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy các tình huống thực tế; xây dựng chương trình thực tập có cấu trúc; hỗ trợ sinh viên thực hiện khóa luận bằng dữ liệu thật và tổ chức các chương trình đào tạo công nghệ cho giảng viên.

Ở góc độ doanh nghiệp logistics, bà Hà Thu Hoa, Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Vận tải Hàng hải Quốc tế Việt Nam (VIMT) cho rằng khoảng cách giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước đang ngày càng rõ nét. Trong khi nhiều tập đoàn quốc tế đã số hóa toàn bộ chuỗi vận hành, ứng dụng AI, dữ liệu thời gian thực và tự động hóa, thì phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước vẫn quản lý bằng Excel, giấy tờ hoặc các công cụ rời rạc. Thực tế đó đòi hỏi chương trình đào tạo phải thay đổi mạnh hơn nữa.

Theo bà Hoa, sinh viên cần được học trên chính các phần mềm doanh nghiệp đang sử dụng; thực tập tại các doanh nghiệp logistics lớn với các chỉ số đánh giá cụ thể; đồng thời coi tiếng Anh chuyên ngành, phân tích dữ liệu và kỹ năng số là những năng lực bắt buộc. "Bên cạnh kỹ năng công nghệ, sinh viên cần có khả năng kết nối giữa bộ phận nghiệp vụ với bộ phận công nghệ thông tin, có tư duy chiến lược và khả năng thích ứng liên tục trước sự thay đổi của công nghệ", bà Hoa nhấn mạnh.

qudq.jpg
Theo bà Hà Thu Hoa, Giám đốc Điều hành Công ty Cổ phần Vận tải Hàng hải Quốc tế Việt Nam (VIMT), sinh viên cần được học trên chính các phần mềm doanh nghiệp đang sử dụng; thực tập tại các doanh nghiệp logistics lớn với các chỉ số đánh giá cụ thể; đồng thời coi tiếng Anh chuyên ngành, phân tích dữ liệu và kỹ năng số là những năng lực bắt buộc. (Ảnh: ĐỖ BẢO)

Chuyển đổi số đang làm thay đổi căn bản cách thức vận hành của ngành logistics. Khi trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật và tự động hóa ngày càng được ứng dụng sâu rộng, yêu cầu đối với nguồn nhân lực cũng không còn dừng ở kiến thức chuyên môn truyền thống. Các chuyên gia cho rằng, để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh logistics và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, đào tạo nhân lực cần chuyển từ mô hình truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực thực hành, tư duy dữ liệu và khả năng giải quyết các bài toán thực tế.

Điều đó chỉ có thể đạt được khi nhà trường, doanh nghiệp và các hiệp hội nghề nghiệp cùng đồng hành trong xây dựng chương trình đào tạo, chia sẻ dữ liệu, công nghệ và môi trường thực hành. Từ những mô hình đã được triển khai tại nhiều trường đại học cũng như các đề xuất hợp tác được đưa ra tại chương trình Bàn tròn Giảng viên VALOMA số 04, có thể thấy quá trình gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp không còn là xu hướng, mà đang trở thành yêu cầu tất yếu để hình thành đội ngũ nhân lực logistics chất lượng cao, đủ năng lực đáp ứng cuộc chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong toàn ngành.

Có thể bạn quan tâm

(Ảnh: THÀNH ĐẠT)

Giá vàng ngày 28/9: Vàng miếng, vàng nhẫn tiếp tục “bốc hơi” cả triệu đồng/lượng

Giá vàng thế giới hôm nay (28/9) giảm mạnh, giao dịch ở mức 4.210 USD/ounce khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cao, chính sách lãi suất thắt chặt từ FED và những lo ngại liên quan lạm phát, giá năng lượng, căng thẳng địa chính trị. Trong nước, giá vàng miếng SJC “bốc hơi” 1 triệu đồng, bán ra ở mức 143,4 triệu đồng/lượng.

Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mạnh mẽ vươn khơi, khai mở không gian phát triển mới

Nghị quyết 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 Hội nghị lần thứ 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đã nhấn mạnh: “Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là chiến lược phát triển đất nước lâu dài, gắn chặt với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,…”.

Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam

Khát vọng "2 con số" và lựa chọn lịch sử của Việt Nam

Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã có bước tăng trưởng “kỳ tích”, vượt qua thời kỳ nghèo đói, lạc hậu để lại với tăng trưởng bình quân 6,4%. Nhưng Việt Nam muốn “sánh vai với cường quốc năm châu”, không con đường nào khác ngoài việc tiếp tục cải cách toàn diện các điểm nghẽn căn bản để bứt phá với tăng trưởng cao bền vững. 

Khu vực nuôi cá chẽm công nghệ cao ở vùng nước sâu của Công ty trách nhiệm hữu hạn Thủy sản Australis Việt Nam trên vịnh Vân Phong, tỉnh Khánh Hòa. (Ảnh: QUỐC VIỆT-LÊ QUÂN)

Khai mở không gian phát triển mới

Thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, nuôi biển công nghệ cao, chúng ta đang đứng trước cơ hội lớn để bứt phá từ biển, làm giàu từ biển, nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

Dự án mở rộng Quốc lộ 13, 1 trong các dự án giao thông "cửa ngõ" thực hiện theo hình thức đối tác công-tư. (Ảnh: VÕ LÊ)

Huy động các nguồn lực phát triển hạ tầng giao thông

Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa lấy ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với dự thảo Nghị quyết về chính sách ưu đãi, huy động các nguồn lực để xây dựng, phát triển, bảo trì đồng bộ hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng giao thông, phát triển vùng, logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Kiểm tra, đánh giá khả năng giảm chất hữu cơ và dinh dưỡng của mô hình nuôi IMTA. (Ảnh: NAM MINH)

Nâng cao hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thủy sản

Những năm gần đây, nghề nuôi thủy sản trên biển bằng lồng, giàn bè tại thành phố Quảng Ninh phát triển nhanh, mang lại giá trị kinh tế đáng kể và góp phần nâng cao thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, sự gia tăng về số lượng, mật độ lồng, giàn bè đang tạo áp lực ngày càng lớn lên môi trường và hệ sinh thái tại các vùng nuôi.

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Vương Quốc Tuấn cùng lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Trị kiểm tra tiến độ dự án Khu bến cảng quốc tế Mỹ Thủy. (Ảnh: LÂM QUANG HUY)

Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị Vương Quốc Tuấn yêu cầu đẩy nhanh, không để lùi thêm mốc thời gian nào các dự án động lực, trọng điểm

Ngày 26/9, Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị và Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp kiểm tra các dự án động lực, trọng điểm yêu cầu đẩy nhanh tiến độ, không để lùi thêm bất kỳ mốc thời gian nào của các dự án nhằm sớm đưa vào khai thác, sử dụng.

Việc theo dõi tiến độ từng dự án là cơ sở để đăng ký kế hoạch giải ngân phù hợp. (Ảnh: KC)

Chuẩn hóa dữ liệu trước kỳ chấm điểm giải ngân đầu tư công chính thức

Sau 2 kỳ chấm điểm thử, Bộ Tài chính đề nghị các bộ, cơ quan trung ương và địa phương rà soát từ vốn đăng ký giải ngân đến phạm vi nguồn vốn, kết quả thanh toán và những vướng mắc. Yêu cầu đặt ra trước kỳ chấm điểm chính thức là dữ liệu phải phản ánh đúng tiến độ thực hiện, thống nhất giữa các hệ thống và được cập nhật đúng hạn.