Kỳ nhân khắc mộc bản

Mỗi chiều của một con chữ Hán chỉ khoảng 1cm, nhưng ở đó, có hàng chục nét khác nhau... Để in kinh sách, trên một mặt gỗ phẳng, người thợ khắc mộc bản phải khoét gỗ, lấy đi những phần thừa, chỉ để lại phần nét chữ. Muốn giỏi nghề, vừa phải giỏi khắc, vừa thạo chữ Hán. Nghề khắc mộc bản là một kỳ công và gần như đã thất truyền. Cả nước chỉ còn một vài nghệ nhân, trong đó anh Nguyễn Văn Thạo (xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), là một kỳ nhân của cái nghề đòi hỏi nhiều kỹ thuật tinh tế này.
Anh Nguyễn Văn Thạo đang khắc mộc bản.
Anh Nguyễn Văn Thạo đang khắc mộc bản.

1. Nghệ nhân Nguyễn Văn Thạo thong thả kê chiếc bàn khắc nghiêm ngắn trước hiên nhà. Hộc chứa dụng cụ nghề mộc đặt kế bên, có đến hai chục loại. Những mũi dao, mũi đục bé xíu, có mũi đục chỉ cỡ vài mi-li-mét. Anh đặt tấm ván gỗ thị bàn khắc, ngồi xếp bằng như khi người ta bắt đầu một cuộc thưởng trà, rồi giở bản kinh Phật “Ngũ bách danh Quán thế âm kinh” để xem lại. Bản kinh với những nét chữ vuông vức, sắc nét của một tay bút thâm niên. Bấy giờ, công việc của anh mới bắt đầu. Anh “chuyển thể” bản kinh chữ Hán ấy thành bản khắc gỗ, để in ấn bản mới khi cần.

Tấm ván gỗ thị một chiều khoảng 20cm, một chiều 40cm đã dán úp một tờ kinh chép trên giấy dó lụa. Tấm dó lụa mỏng tang, được phết một lớp dầu thực vật khiến các chữ Hán cổ hiện lên khá rõ, nhưng là những chữ ngược. Cầm chiếc dao khắc trên tay, anh Thạo bắt đầu “đi nét”. Đầu tiên, là những nét viền của từng nét chữ. Con dao khắc đi đủ các đường uốn lượn hay gấp khúc và cả những “ngóc ngách” của con chữ ở độ sâu đều đặn chừng 2 mi-li-mét. Kế đó, anh đi những nét ngay sát cạnh đường viền con chữ, để đục bỏ những phần không có nét. Khâu này gọi là “hạ nền”. Tiếp đến, mới đi vào “lòng chữ”.

Mỗi chữ có kích thước chỉ vỏn vẹn mỗi chiều 1cm, mà có hàng chục nét ngang dọc, đâm chéo lẫn nhau khiến việc khắc lòng chữ kỳ công hơn. Con dao khắc trong tay phải đủ cứng để khoét gỗ đủ sâu, lại vừa đủ mềm để “đi” được những nét phẩy, nét mác, nét móc... Riêng nét móc lại có cả chục kiểu, phải làm sao lột tả đúng được những đường nét khi đuôi chữ hất lên, khi mềm mại, khi rắn rỏi. Nghệ nhân dành toàn bộ tâm trí cho công việc trước hiên ngôi nhà năm gian lợp ngói ta, chung quanh đầy những bản kinh, bản khắc tranh dang dở. Theo từng nét khắc, những mẩu gỗ bung ra, con chữ dần hiện lên. Anh Thạo dừng tay, lấy mực phết lên những con chữ mới khắc thử “nghiệm thu”. Trên mặt gỗ, những con chữ vuông vức mà uyển chuyển, không khác gì người viết bằng bút lông.

“Nếu khắc chuông, khắc bia đá, người ta khắc âm bản, các nét chữ tạo thành do người ta đục vào thân chuông, thân bia. Với khắc mộc bản, các nét chữ tạo thành bằng cách đục hết phần còn trống trên ván gỗ, chỉ để lại phần nét, tạo thành bản khắc nổi, gọi là khắc dương bản. Sau này, quết mực lên, úp tờ giấy dó vào là sẽ in được một tờ kinh”. Phải đến khi dừng tay, anh Thạo mới bắt đầu câu chuyện.

Khắc chữ là công đoạn cuối của khắc mộc bản. Một người có thâm niên như nghệ nhân Nguyễn Văn Thạo, phải mất tới năm ngày để khắc một tấm ván in được hai tờ kinh. Một buổi sáng chuyên tâm, cũng chỉ được khoảng hơn chục chữ. Khắc một cuốn sách, thời gian sẽ tính bằng tháng, bằng năm.

2. Vốn có nghề đục, chạm gia truyền, hai mươi tuổi, đôi bàn tay nghệ nhân Nguyễn Văn Thạo “đụng” vào gỗ là thành rồng, thành phượng, thành hoa lá. Anh mê công việc của mình. Nhà cách chùa Bút Tháp (xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) - một bảo tàng kiến trúc, điêu khắc cổ truyền - chỉ mấy bước chân nhưng anh thường quên lối về trước những nét đục chạm của người xưa.

Nếu lỡ tay một chút sẽ bị phá nét. Mà phá nét khi khoét một mẩu gỗ đi rồi, thì coi như bản khắc ấy bị hỏng. Có những khi do yêu cầu phải khắc những chữ chỉ như hạt gạo

Nghệ nhân Nguyễn Văn Thạo

Sinh ra từ làng, lớn lên ở làng, những tưởng anh cứ mãi gắn bó với những hoành phi, câu đối, ban thờ... nào ngờ một ngày khi đến chùa Bút Tháp, anh thấy họa sĩ, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng ở đó. Thầy Thượng đang khắc gỗ, để in tranh. Anh Thạo “nhập tâm” ngay. Nhưng “anh thợ mộc làng” cũng chỉ quan sát từ xa, chưa dám thưa chuyện. Một ngày, anh đánh bạo hỏi chuyện thầy. Đó cũng là khi anh bước chân vào một thế giới khác...

Khi ấy Thạo đã gần 30 tuổi, đang là một thợ mộc lành nghề, có xưởng riêng. Nhưng bấy giờ, anh mới biết đến các dòng tranh dân gian. Và anh bắt đầu “khởi nghiệp” khắc gỗ. “Mình chỉ đục chạm rồng, phượng, hoa lá theo các cụ chỉ bảo thôi. Các thầy đã giúp mình hiểu thế giới tranh khắc gỗ dân gian, với những dòng tranh như: Hàng Trống, Kim Hoàng, Đông Hồ... hay các loại tranh dùng trong hoạt động tâm linh.

Tranh khắc gỗ có cái gần gũi với nghề nghiệp của mình là việc chế tác các bản khắc gỗ để in tranh. Mình biết đến bố cục tranh, những dạng thức trang trí trong tranh dân gian. So với chạm khắc gỗ, thì khắc tranh dân gian khó hơn nhiều vì rất nhiều chi tiết nhỏ. “Động” đến tranh dân gian thì nhiều bức có chữ Hán, chữ Nôm trên tranh. Nếu khắc giỏi mà không biết chữ, vừa dễ khắc sai, mà nếu không khắc sai, cũng chỉ chuyển tải được cái “hình” của chữ”, nghệ nhân Nguyễn Văn Thạo nhớ lại.

Như một cơ duyên, cùng làm tranh khắc với họa sĩ Phan Cẩm Thượng lúc ấy có thư pháp gia Lê Quốc Việt, một người uyên thâm Hán học hàng đầu Việt Nam. Nhờ đó, anh thợ mộc làng được “thọ giáo” cả hai người thầy nổi tiếng ấy.

Là thợ mộc lành nghề, nhưng đấy mới là “nền” để bước vào khắc chữ. Anh Thạo phải đi nhiều, học nhiều. Khắc mộc bản chủ yếu dùng gỗ thị. Sơ chế gỗ cũng đã kỳ công. Cây thị phải già mới được hạ xuống, tốt nhất là cây già đến độ không còn ra quả. Hạ xuống để đó ít nhất ba tháng, cây khô dần tự nhiên mới xẻ thô, ngâm dưới nước từ ba tháng đến một năm. Vớt lên, xẻ ra thành những bản với kích thước đủ dùng, lại phải hong cho khô dần bằng gió, chứ không được đem đi phơi nắng. Bản khắc để lưu lại cả trăm năm, nên phải đạt chừng ấy công đoạn, sau này mới không co ngót, cong vênh, nứt vỡ, và đạt độ thấm mực vừa đủ cho việc in ấn sau này. Bấy giờ, mới mài phẳng rồi có thể bắt đầu khắc chữ.

Hồi mới vào nghề, khắc xong mấy chữ, in ra, anh Thạo phấn khởi lắm. Nhưng khi các thầy phân tích, anh lại muốn “giấu tiệt” thành quả của mình đi. Đơn giản nhất là chữ “nhất”, chỉ gồm một nét ngang. Nhưng nét ấy đầu nét đậm, giữa nét lại thanh mảnh, cuối nét lại đậm nhưng hơi thuôn dài. Mà hầu như nét nào của chữ Hán cũng chỗ “nặng”, chỗ “nhẹ” như thế. Nếu không đạt yêu cầu ấy, thì không thể “lưu hậu thế” được. Chỉ còn mỗi một cách khắc phục là phải hiểu hơn về Hán tự, và rèn luyện đôi tay hằng ngày.

Từ một người thợ mộc lành nghề, phải mất đúng bảy năm, anh mới thạo nghề khắc mộc bản. “Nếu lỡ tay một chút sẽ bị phá nét. Mà phá nét khi khoét một mẩu gỗ đi rồi, thì coi như bản khắc ấy bị hỏng. Có những khi do yêu cầu phải khắc những chữ chỉ như hạt gạo”, do đó khi đã ngồi vào bàn khắc là phải tập trung cao độ, anh không muốn bị làm phiền. Đến với nghề cách đây hai mươi năm, nhưng phải mất tới bảy năm học nghề, không biết bao nhiêu lần anh Thạo phải bỏ đi những tấm ván khắc chỉ vì “nhỡ tay” như thế.

3. Nghề khắc mộc bản có ở nước ta từ rất sớm. Sách Thiền uyển tập anh có đề cập thiền sư Tín Học (thời Lý) là người trong một gia đình làm nghề in sách. Khi kỹ thuật in ấn chưa phát triển, tất cả các sách từ triều đình cho đến dân chúng, muốn “nhân bản” một cách thuận tiện, đều phải thông qua khắc mộc bản. Khắc mộc bản tốn nhiều công sức, cho nên những bộ sách lớn đều do triều đình, hay các trung tâm Phật giáo đứng ra san khắc.

Khi nghề in phát triển, Thăng Long xưa có các phường in khắc ở Hàng Trống, Hàng Nón, Hàng Bông... Nền văn hiến nghìn năm của dân tộc Việt hiện cũng được lưu giữ một phần qua những bộ ván khắc cổ. Nổi tiếng nhất là bộ mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm ở huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, mộc bản triều Nguyễn - những Di sản tư liệu thế giới của Việt Nam. Riêng mộc bản triều Nguyễn là một khối tài liệu đồ sộ, phản ánh mọi mặt về xã hội Việt Nam như: Lịch sử, địa lý, chính trị-xã hội, quân sự, ngoại giao... dưới triều Nguyễn.

Nghề in khắc mai một từ đầu thế kỷ 20, khi kỹ thuật in ấn hiện đại du nhập vào nước ta. Những hiệu in khắc ở Hà Nội do vậy không còn tồn tại. Hai ngôi làng có nghề in khắc nổi tiếng là Liễu Tràng, Hồng Lục (Hải Dương), từ rất lâu cũng không còn ai làm nghề. Một số người chuyển sang nghề khắc dấu. Nhu cầu của xã hội ít dần. Nhưng những năm gần đây, nhiều người đã nói đến cụm từ “chấn hưng văn hóa”. Điều đó là có thật bởi ngày càng nhiều người quay về tìm lại giá trị nguồn cội. Tranh khắc gỗ nhờ đó từng bước hồi sinh. Nhiều người muốn khắc lại những bộ sách, bộ kinh cổ đúng theo phương pháp truyền thống.

Rất may, còn đó một nghệ nhân ở đất Thuận Thành giữ nghề-nghệ nhân Nguyễn Văn Thạo. Anh chế tác nhiều bản khắc gỗ cho các dòng tranh Kim Hoàng, Hàng Trống, chưa kể làm ván khắc cho nhiều nghệ sĩ khác. Tuy vậy, khắc mộc bản, với anh Thạo, là một “cõi” riêng. “Đấy là một việc trọng. Ngày xưa hay bây giờ cũng thế, khi các chùa tổ chức san khắc một bản kinh, các nhà sư phải dâng hương trước Tam Bảo để báo cáo công việc. Khắc xong rồi, lại làm một nghi lễ nữa để dâng lên Đức Phật.

Những bản khắc ấy sẽ lưu lại cho hậu thế, cho mai sau, được cộng đồng trân trọng. Là một người thợ, mình tự hào được tham gia vào công việc thiêng liêng ấy”, anh Thạo giải thích. Và điều đó cũng lý giải tại sao, anh hoàn toàn nhập tâm bằng thái độ nghiêm cẩn khi cầm trên tay dao, đục, ngồi vào bàn để khắc những lời Phật dạy chúng sinh...

Có thể bạn quan tâm

Đại diện Ban tổ chức, Ban Giám khảo chụp ảnh kỷ niệm cùng các thí sinh tham gia cuộc thi. (Ảnh: Khánh Lan)

Hơn 700 thiếu nhi Việt Nam và quốc tế tham gia Cuộc thi vẽ tranh “Em yêu Hà Nội - Thành phố vì hòa bình”

Cuộc thi vẽ tranh quốc tế góp phần quảng bá hình ảnh Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo, “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, đồng thời giáo dục thiếu nhi về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu hòa bình và tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa thiếu nhi Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) - nơi diễn ra nghi thức chính của Lễ hội Katê hằng năm. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Sẵn sàng vui đón Lễ hội Katê 2026

Những ngày đầu tháng 10, không khí đón Lễ hội Katê đã rộn ràng khắp các làng Chăm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa. Từ những con đường làng rực rỡ sắc màu đến các đền, tháp cổ kính, mọi công việc chuẩn bị đang khẩn trương hoàn tất. 

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Ba họa sĩ, ba phong cách nghệ thuật, nhưng có một điểm chung là tình yêu và những miền ký ức gắn với Hà Nội. Triển lãm chung mang tên “Mơ về nơi bắt đầu” tại Trung tâm Nghệ thuật Area 75 – Art & Auction là nơi các họa sĩ Bùi Tuấn Thanh, Đỗ Doãn Châu và Doãn Hoàng Lâm kể chuyện về con người và thành phố qua hội họa.

Hàng chục nghìn người dân Lai Châu tham dự đêm nhạc Viettel Y-Fest vào tối 3/10 tại Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu.

Một đêm nhạc, nhiều điểm chạm ở Lai Châu

Chương trình Viettel Y-Fest 2026 lần đầu tiên được tổ chức tại Lai Châu không chỉ mang đến một đêm nhạc sôi động, mà còn mở ra không gian kết nối văn hóa, cảnh quan, ẩm thực và sản phẩm địa phương, góp phần lan tỏa hình ảnh Lai Châu đến với nhiều du khách.

Nghệ sĩ Nhân dân Đồng Văn Minh biểu diễn đàn tre lắc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Không gian âm nhạc dân tộc

Theo đề án được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt thì đến năm 2031 Dàn nhạc Dân tộc quốc gia Việt Nam được định hướng trở thành một “không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam”, phục vụ các hoạt động văn hóa trong nước và quốc tế.

Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, diễn ra từ ngày 1-4/10 với chủ đề “Hội tụ di sản-Kiến tạo tương lai”. (Ảnh: MINH DUY)

[Ảnh] Gặp gỡ văn hóa, giao lưu nhân dân và kết nối quốc tế tại "Sắc màu năm châu"

Chiều 3/10, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm trở thành không gian giao lưu văn hóa sôi động khi hàng nghìn nghệ sĩ, nghệ nhân và người dân cùng tham gia Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”. Những trang phục truyền thống, tiết mục nghệ thuật và vũ điệu sôi nổi đến từ nhiều quốc gia đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng giữa lòng Thủ đô.

Một buổi dạy đàn Chapi của nghệ nhân xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Học sinh Raglai nối dài tiếng đàn Chapi giữa núi rừng

Từ năm học 2026-2027, đàn Chapi được đưa vào giảng dạy tại Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà, xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa. Qua từng nhịp đàn còn vụng về của học trò, âm thanh mộc mạc của núi rừng đang được đánh thức, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa của đồng bào Raglai cho thế hệ mai sau.

Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)

Đánh thức tư liệu cổ từ di sản Phật giáo Huế

Giữa sương sớm núi Thiên Thai, tiếng chuông Tổ đình Thiền Tôn ngân lên từ không gian đã hơn ba thế kỷ. Trong ngôi cổ tự gắn với dòng thiền Liễu Quán, những mộc bản, kinh sách và tư liệu Hán Nôm vẫn âm thầm lưu giữ dấu tích Phật giáo Huế, vừa chứa đựng những lớp ký ức về lịch sử, văn hóa và văn hiến vùng đất Cố đô.

Đội biểu diễn Taekwondo quốc gia trực thuộc Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026

Hướng tới kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2027) và Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đồng chủ trì tổ chức chương trình “Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026” từ ngày 3-4/10.

Các đại biểu và diễn giả tại Hội thảo. (Ảnh: Ban tổ chức)

Đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành tài sản sở hữu trí tuệ

Hội thảo “Culture Tech 2026: From Culture to IP” trong khuôn khổ iTECH EXPO 2026 đã đặt ra những gợi mở về việc đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành những tài sản sở hữu trí tuệ mang giá trị kinh tế cao, theo định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, chuyển văn hóa thành nguồn lực, đóng góp vào phát triển kinh tế.

Rước kiệu vua Lê Thái Tổ và Trung Túc vương Lê Lai về sân điện Lam Kinh. (Ảnh: MAI LUÂN)

Khai hội Lam Kinh 2026

Sáng 2/10, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh ở xã Lam Sơn, tỉnh Thanh Hóa long trọng tổ chức kỷ niệm 608 năm Khởi nghĩa Lam Sơn, 598 năm vua Lê Thái Tổ đăng quang, 593 năm ngày mất của Anh hùng dân tộc Lê Lợi và khai hội Lam Kinh năm 2026.