40 năm đổi mới nhìn lại và đi tới

Kỳ IV: GS, TSKH Võ Đại Lược: “Ðổi mới bắt đầu từ đổi mới tư duy”

GS, TSKH Võ Đại Lược, nguyên Viện trưởng Kinh tế và Chính trị thế giới, từng tham gia soạn thảo Văn kiện Đại hội VI của Đảng và nhiều năm tham gia nhóm tư vấn cho các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, từ các đồng chí Tổng Bí thư: Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười đến Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải. Từ trải nghiệm qua nhiều năm tham gia hoạch định chính sách, ông đã trò chuyện với Nhân Dân hằng tháng về những bài học được kế thừa, bổ sung và phát triển sau 40 năm Đổi mới đất nước.

Hệ thống đường sắt đô thị (Metro) đã trở thành một biểu tượng hiện đại mới cho sự phát triển của Thủ đô Hà Nội. Ảnh | Thành Đạt
Hệ thống đường sắt đô thị (Metro) đã trở thành một biểu tượng hiện đại mới cho sự phát triển của Thủ đô Hà Nội. Ảnh | Thành Đạt

Phóng viên: Có nhiều nhận định cho rằng đổi mới tư duy là bài học đầu tiên, đồng thời cũng là khởi nguồn của công cuộc Đổi mới. Từ những trải nghiệm của mình, ông nhìn nhận thế nào về điều này?

28-1-2976.png
GS, TSKH Võ Đại Lược.

GS Võ Đại Lược: Theo tôi, bài học lớn nhất của 40 năm Đổi mới trước hết là đổi mới tư duy. Nhiều người cho rằng Đổi mới bắt đầu khi Đại hội VI thông qua đường lối phát triển mới. Nhưng đáng suy ngẫm hơn là điều gì đã làm thay đổi tư duy để những quyết sách ấy có thể ra đời? Vì sao chỉ trong một thời gian rất ngắn, dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội VI vẫn mang nặng tư duy kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp lại chuyển hẳn sang chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước?

Câu trả lời nằm ở sự thay đổi trong tư duy của đồng chí Trường Chinh và nhiều lãnh đạo cấp cao lúc bấy giờ. Khi tư duy thay đổi thì chính sách mới có thể thay đổi. Nếu vẫn giữ cách nghĩ cũ thì sẽ không bao giờ có Đổi mới. Điều tôi ấn tượng nhất ở Tổng Bí thư
Trường Chinh là bản lĩnh dám thay đổi chính mình. Nhiều người từng cho rằng ông là người thận trọng, nhưng chính ông lại dũng cảm nhìn thẳng vào thực tiễn để điều chỉnh tư duy. Trong quá trình chuẩn bị Đại hội VI, ông trực tiếp đi khảo sát nhiều địa phương từ bắc vào nam, gặp cán bộ, người dân để tận mắt chứng kiến những khó khăn của nền kinh tế. Đồng thời, ông tập hợp một nhóm các nhà khoa học, chuyên gia, trong đó có các anh Dương Phú Hiệp, Đào Xuân Sâm, Hà Nghiệp và tôi, để nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, chuẩn bị cơ sở khoa học cho đường lối đổi mới.

Qua những chuyến đi ấy, Tổng Bí thư Trường Chinh đi đến một nhận thức rất quan trọng: Muốn đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng thì không thể tiếp tục duy trì cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp mà phải chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước.

Khi đó, ông giao cho tôi nghiên cứu hai chuyên đề là “Chính sách kinh tế mới của Lenin áp dụng vào Việt Nam” và “Chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ mới”. Tôi còn nhớ Tổng Bí thư Trường Chinh đọc đi đọc lại các bản thảo rất nhiều lần. Thời điểm ấy, Chính sách kinh tế mới (NEP) của Lenin trở thành cơ sở lý luận quan trọng để chúng tôi đề xuất xóa bỏ cơ chế mệnh lệnh, quan liêu, bao cấp, từng bước xác lập các quan hệ hàng hóa-tiền tệ phù hợp điều kiện Việt Nam.

Nhưng để đi đến quyết định ấy là cả một quá trình tranh luận rất quyết liệt. Sau nhiều cuộc họp với những ý kiến khác nhau, Tổng Bí thư Trường Chinh kết luận: Phải dứt khoát từ bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp để chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của nhà nước. Khi quan điểm này được đưa ra, không ít ý kiến phản đối, thậm chí lo ngại đó là sự chệch hướng khỏi mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, với uy tín, bản lĩnh và tinh thần dám chịu trách nhiệm, ông đã kiên trì bảo vệ tư duy đổi mới. Cuối cùng, quan điểm ấy được Trung ương chấp thuận và trở thành nền tảng của Báo cáo Chính trị trình Đại hội VI.

- Từng có nhiều năm làm việc và tư vấn cho các thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, ông rút ra bài học gì về vai trò của người đứng đầu trong quá trình hoạch định và thực thi những quyết sách đổi mới?

Bài học lớn tiếp theo, theo tôi, đó là vai trò quyết định của người đứng đầu. Mỗi bước đột phá đều phải vượt qua những lực cản và sự phản đối. Vì vậy, người đứng đầu phải có đủ bản lĩnh để đưa ra quyết định, dám chịu trách nhiệm và kiên trì theo đuổi mục tiêu đã lựa chọn. Nếu người đứng đầu không dám đổi mới thì cấp dưới dù có khát vọng đến đâu, cũng rất khó thực hiện.

Nhìn lại 40 năm Đổi mới, có một điểm chung ở các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt là bản lĩnh của người đứng đầu. Mỗi người đảm nhận trọng trách trong một giai đoạn khác nhau, nhưng đều dám đưa ra những quyết định lớn khi đất nước đứng trước những lựa chọn mang tính bước ngoặt. Chính những quyết định ấy đã tạo động lực để Việt Nam chuyển đổi mô hình phát triển, từng bước hội nhập với thế giới.

Trong ký ức của tôi, đồng chí Đỗ Mười để lại nhiều ấn tượng sâu sắc. Việt Nam đã chuyển mình mạnh mẽ từ năm 1988-1989, khi đồng chí Đỗ Mười giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Nhiều chủ trương đổi mới quan trọng được quyết liệt triển khai trong thực tiễn, từ tự do hóa lưu thông hàng hóa, thực hiện lãi suất thực dương đến kiềm chế lạm phát và mở rộng hội nhập. Chính trong giai đoạn này, tôi có nhiều cơ hội trực tiếp tham gia nghiên cứu, đề xuất chính sách và chứng kiến phong cách làm việc rất quyết đoán nhưng cũng hết sức cẩn trọng của đồng chí Đỗ Mười.

Lúc đó, lạm phát ở Việt Nam vẫn ở mức rất cao, khoảng 9%/tháng và nếu đà tiếp diễn thì sẽ đạt hơn 100%/năm. Vì thế nên hễ được phân phối thứ gì người dân cũng tìm cách tích trữ. Nhà nào cũng chất đầy hàng hóa. Ngay gia đình tôi cũng vậy, được phân phối lốp xe, xích xe... là giữ lại hết.

Thời điểm đó, nhiều cơ quan nghiên cứu trong và ngoài nước đã gửi các đề án, kiến nghị chống lạm phát lên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười. Ông đọc rất kỹ các phương án và chưa vội lựa chọn. Năm 1989, tôi là Viện trưởng Kinh tế và Chính trị thế giới được phân công làm Tổ trưởng Nghiên cứu chống lạm phát của Ủy ban Khoa học Xã hội. Tuy nhiên, tôi không tán thành công trình chung đó nên viết riêng một đề án khác.

Một lần, đầu năm 1989, ông Lê Đức Thúy, Thư ký của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười mời tôi đến trình bày đề án chống lạm phát. Tôi đến và trình bày với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười một gói giải pháp, trọng tâm là thực hiện lãi suất thực dương, tức lãi suất tiền gửi phải cao hơn tỷ lệ lạm phát để hút tiền về ngân hàng và kiềm chế lạm phát, đồng thời xóa bỏ cơ chế “ngăn sông cấm chợ”, tự do hóa lưu thông hàng hóa, mở cửa và hội nhập với kinh tế thế giới…

Sau khi nghe tôi trình bày xong, ông đồng tình với giải pháp tăng lãi suất nhưng vẫn thận trọng với hai giải pháp còn lại và giao ông Hồ Tế, khi đó là Bộ trưởng Tài chính, Thường trực Ban Chỉ đạo chống lạm phát, tổ chức một cuộc hội thảo để phản biện các đề xuất, đặc biệt là chủ trương thực hiện lãi suất thực dương và tự do hóa lưu thông hàng hóa.

Kết quả hội thảo gần như nghiêng hẳn về phía phản đối các giải pháp chống lạm phát. Tôi báo cáo lại toàn bộ với ông Đỗ Mười. Sau khi lắng nghe, ông chỉ nói: “Tôi sẽ cho làm thí điểm ở Hải Phòng”.

Đến bây giờ tôi vẫn nhớ câu nói ấy. Đó chính là bản lĩnh của một nhà lãnh đạo trong thời kỳ Đổi mới: Biết lắng nghe, biết cân nhắc, nhưng khi đã tin đó là con đường đúng thì dám quyết định và dám chịu trách nhiệm.

Ông cho thí điểm lãi suất 12% và cho tự do lưu thông hàng hoá ở Hải Phòng luôn. Một tháng sau, ông xuống Hải Phòng kiểm tra thì thấy dân bán hết hàng tích trữ để lấy tiền gửi ngân hàng, hàng hóa đầy trên thị trường, giá cả hạ xuống. Sau đó, ông ban hành chỉ thị tăng lãi suất trên cả nước.

Có lần, ông gọi tôi lên và trăn trở: Mỗi năm Nhà nước phải in thêm hàng trăm tỷ đồng để mua nông sản của nông dân với giá cao rồi bán rẻ ở thành phố. Cách làm đó vừa tốn ngân sách, vừa góp phần làm lạm phát gia tăng. Ông hỏi tôi nên xử lý thế nào.

Tôi nhắc lại đề xuất đã trình bày trước đó: Nhà nước không nên đứng ra bao cấp lưu thông mà để người dân tự do mua bán, đưa lương thực, thực phẩm vào Hà Nội. Ông băn khoăn: “Tôi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng mà còn chưa lo nổi cái dạ dày của dân, giờ anh bảo giao cho mấy bà tiểu thương thì sao tôi tin được?”.

Tôi đề nghị tiếp tục làm thí điểm như đã thực hiện ở Hải Phòng. Sau đó, ông chỉ thị cho người dân được tự do mang hàng vào Hà Nội. Chỉ một thời gian ngắn, các chợ ở Thủ đô đầy ắp hàng hóa, cảnh xếp hàng tại các cửa hàng mậu dịch dần biến mất. Sau Tết Nguyên đán năm 1989, chủ trương này được mở rộng trên phạm vi cả nước; hệ thống tem phiếu từng bước được bãi bỏ, lạm phát giảm mạnh, có thời điểm chỉ còn khoảng 1-2% mỗi tháng, thậm chí có tháng ở mức âm. Thị trường đảo chiều rất nhanh: Từ chỗ khan hiếm trở nên dồi dào, từ một nước phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam bắt đầu có lượng gạo dư để xuất khẩu.

Qua nhiều năm làm việc, điều khiến tôi ấn tượng nhất ở ông Đỗ Mười là sự quyết đoán. Ông luôn lắng nghe, cân nhắc rất kỹ trước khi đưa ra quyết định. Khi đã xác định đúng thì quyết liệt tổ chức thực hiện. Đồng thời, trước khi triển khai trên diện rộng, ông luôn yêu cầu phải thí điểm, đánh giá kết quả rồi mới nhân rộng. Theo tôi, đó cũng là bài học lớn thứ ba của công cuộc Đổi mới: Mọi chính sách lớn đều cần được thí điểm, tổng kết, đánh giá trước khi triển khai trên diện rộng. Hầu như các đề xuất tôi trình bày với ông Đỗ Mười, từ thực hiện lãi suất thực dương, xóa bỏ “ngăn sông cấm chợ”, tự do hóa lưu thông hàng hóa đến nhiều chủ trương cải cách khác đều được yêu cầu làm thí điểm, đánh giá kết quả rồi mới quyết định mở rộng trên phạm vi cả nước.

- Luôn lắng nghe, kể cả những ý kiến khác biệt để cân nhắc, đưa ra quyết định đúng - phải chăng đó cũng là một bài học của 40 năm Đổi mới mà ông muốn nhấn mạnh?

Đúng vậy. Sau nhiều năm có cơ hội làm việc với các thế hệ lãnh đạo cao nhất của đất nước, điều tôi tâm đắc nhất là người đứng đầu phải lắng nghe giới trí thức và các nhà khoa học. Muốn có quyết sách đúng thì trước hết phải trân trọng những ý tưởng mới, những góc nhìn khác và cả những ý kiến phản biện.

Tổng Bí thư Trường Chinh thường xuyên đến Viện Khoa học Xã hội để trao đổi trực tiếp với các nhà nghiên cứu. Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng vậy. Mỗi năm, ông đều dành vài lần xuống Viện, không phải để nghe báo cáo mà để nghe những ý tưởng mới. Có lần, ông nói với chúng tôi: “Tôi xuống đây chủ yếu để nghe các anh có thể gợi ý những ý tưởng gì mới. Các anh cứ tự do phát biểu”.

Chúng tôi từng kiến nghị Việt Nam tham gia IMF, World Bank và GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch) nhưng khi đưa ra Bộ Chính trị, ban đầu nhiều đồng chí chưa đồng tình. Ông Đỗ Mười gọi tôi lên và nói: “Không ai đồng ý cả”. Tôi xin được báo cáo trực tiếp với Bộ Chính trị và sau buổi báo cáo, những ý kiến phản đối không còn nữa.

Từ năm 1991 đến 1997, trên cương vị Tổng Bí thư, ông Đỗ Mười đã để lại những dấu ấn quan trọng trong mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, từ bình thường hóa quan hệ với Mỹ, gia nhập ASEAN... Đằng sau những quyết định đó không phải không có ý kiến phản đối. Nhưng Tổng Bí thư Đỗ Mười đã lắng nghe những phân tích, cân nhắc lợi ích của chủ trương hội nhập và quyết định đưa Việt Nam từng bước hội nhập sâu hơn với khu vực và thế giới.

Đến thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải, tinh thần ấy càng được phát huy. Hằng năm, Thủ tướng Võ Văn Kiệt mời khoảng 20 nhà khoa học, chuyên gia đến Văn phòng Chính phủ để trao đổi trực tiếp. Không khí các cuộc họp rất cởi mở, ai cũng có thể nói thẳng, nói hết điều mình suy nghĩ.

- Sau 40 năm Đổi mới, ông đánh giá thế nào về cơ hội và những quyết sách phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới hiện nay?

Theo tôi, chưa bao giờ Việt Nam có điều kiện phát triển thuận lợi như hiện nay. Nếu như khi bắt đầu Đổi mới năm 1986, đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh, còn bị bao vây, cấm vận, nguồn lực vô cùng hạn hẹp, thì hôm nay chúng ta đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với tất cả các quốc gia và nền kinh tế lớn, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, cả song phương và đa phương. Thời cơ phát triển chưa bao giờ rộng mở như bây giờ.

Tôi đánh giá cao những quyết sách gần đây, nhất là chủ trương tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đơn vị hành chính để mở rộng không gian phát triển. Đây là những bước đi mang tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm và lẽ ra cần được thực hiện sớm hơn.

Tuy nhiên, thời cơ chỉ có thể biến thành động lực phát triển nếu tháo gỡ được điểm nghẽn lớn nhất là thể chế. Tôi rất đồng tình với nhận định của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm rằng “thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Trong nhiều nghiên cứu gửi các cơ quan có thẩm quyền, tôi cũng nhiều lần kiến nghị phải tiếp tục cải cách thể chế, trước hết là đổi mới tư duy xây dựng pháp luật.

Theo tôi, muốn tháo gỡ điểm nghẽn thể chế thì trước hết phải đổi mới tư duy trong xây dựng pháp luật. Hiện nay, một bất cập là bộ nào quản lý lĩnh vực nào thường được giao chủ trì soạn thảo luật về lĩnh vực đó. Vì vậy, nhiều khi luật được xây dựng khá chung để trình Quốc hội, còn những quy định cụ thể lại được thể hiện ở các nghị định, thông tư, chỉ thị do chính bộ, ngành đó xây dựng, từ đó dễ phát sinh tình trạng cài cắm lợi ích cục bộ. Chúng ta cần thay đổi cách tiếp cận này, chủ động nghiên cứu, chọn lọc những bộ luật tiên tiến đã được kiểm nghiệm ở các nước phát triển để vận dụng phù hợp với điều kiện Việt Nam.

- Theo ông, sau cải cách thể chế, đâu sẽ là ưu tiên tiếp theo để tạo động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới?

Sau cải cách thể chế, ưu tiên tiếp theo phải là xây dựng một chiến lược quốc gia về trọng dụng nhân tài. Muốn phát triển nhanh thì trước hết phải tạo cơ chế để người giỏi trong nước cống hiến, thu hút được người Việt Nam ở nước ngoài và các chuyên gia quốc tế. Điều giữ chân nhân tài không chỉ là thu nhập, mà còn là môi trường làm việc, cơ hội sáng tạo và sự tin tưởng khi giao việc.

Tôi từng giới thiệu nhiều học trò sang học tại Harvard và nhiều trường đại học hàng đầu thế giới. Phần lớn sau khi tốt nghiệp họ đều ở lại làm việc. Không phải họ không yêu đất nước, mà vì ở đó họ có điều kiện nghiên cứu và phát triển nghề nghiệp tốt hơn. Đó là điều chúng ta phải suy nghĩ.

Trong bối cảnh sắp xếp, tinh gọn bộ máy hiện nay, điều quan trọng không chỉ là giảm đầu mối, mà phải chọn đúng người để vận hành bộ máy mới. Nếu không có đội ngũ đủ năng lực thì bộ máy, dù được tổ chức lại, cũng khó hoạt động hiệu quả. Suy cho cùng, thể chế có thể mở đường, nhưng con người mới là yếu tố quyết định thành công của mọi cuộc cải cách.

- Xin trân trọng cảm ơn ông!

Có thể bạn quan tâm

Các sự kiện giao lưu, quảng bá văn hóa Việt Nam tại Pháp do TS Hoàng Thị Hồng Hà thực hiện. Ảnh | NVCC

Những nhịp cầu lan tỏa văn hóa Việt

Tiếng Việt, ẩm thực và những sinh hoạt cộng đồng giúp người Việt Nam ở nước ngoài hướng về nguồn cội, giới thiệu văn hóa quê hương với bạn bè sở tại. Những hoạt động gần gũi ấy, khi được kết nối và nhân rộng sẽ góp phần bồi đắp sức mạnh mềm và hình ảnh đất nước.

Lễ diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền nam, thống nhất đất nước.

XÃ HỘI ÐÁNG SỐNG CHO MỘT QUỐC GIA PHÁT TRIỂN

Nghị quyết số 18-NQ/TW Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Ðảng khóa XIV về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đặt ra một vấn đề có ý nghĩa căn bản đối với hành trình đi tới năm 2045: Việt Nam không chỉ trở thành một quốc gia phát triển, mà còn phải xây dựng một xã hội phát triển.

Đào Đặng Công Trung trong một lần đi cứu giúp bà con trong lũ dữ tại Đà Nẵng. Ảnh | NGUYỄN ĐÔNG

Cứu người, giúp đời là lẽ sống

Ở tuổi 46, anh Ðào Ðặng Công Trung (thành phố Ðà Nẵng) vẫn vâm váp, xông pha như tuổi đôi mươi, hôm nay lặn xuống đáy biển nhặt rác, ngày mai cắt lưới ma giải cứu san hô, ngày kia vượt 200 km lên vùng núi Tây Giang đưa người trẻ khám phá rừng pơ-mu cổ thụ nghìn tuổi và truyền dạy cho họ những bài học sinh tồn giữa nơi hoang vu. Bão lũ tràn về, anh Trung lại đi khắp từ miền bắc tới miền trung, lái ca-nô, xuyên ngày đêm chở hàng cứu trợ, bơi như rái cá giúp bà con thoát khỏi thảm cảnh cô lập khi nước lũ dâng lút mái nhà…

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 3/9/2026. Ảnh | Khánh An

Kỳ IV: KIÊN ĐỊNH NGUYÊN TẮC, VẬN DỤNG SÁNG TẠO

Trong tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, có những nguyên tắc không chỉ là nền tảng của tổ chức và hoạt động mà còn là cội nguồn sức mạnh, bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất và năng lực lãnh đạo của Ðảng. Trong đó, nguyên tắc tập trung dân chủ luôn giữ vị trí trung tâm, được xác định là nguyên tắc cơ bản nhất, xuyên suốt quá trình xây dựng, chỉnh đốn Ðảng.

Thiếu tướng Nguyễn Tiến Trung, Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh làm Trưởng đoàn kiểm tra công tác quản lý, vận hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh.

Dấu mốc quan trọng trong giai đoạn mới

Thời điểm tỉnh Quảng Ninh trở thành thành phố trực thuộc Trung ương là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mở ra một giai đoạn phát triển mới, đồng thời đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác bảo đảm an ninh, trật tự (ANTT) cả về quy mô, tính chất và phương thức quản lý.

Toàn cảnh phiên thảo luận tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI về dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi), ngày 9/8/2026. Ảnh | DUY LINH

THAY ÐỔI PHƯƠNG THỨC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Dự thảo Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) sửa đổi vừa được Quốc hội thảo luận trong một thời điểm rất khác so với khi Luật năm 2012 được ban hành. Hơn 10 năm qua, hệ thống pháp luật được bổ sung, hoàn thiện, đời sống xã hội chuyển mạnh lên môi trường số, AI hiện diện trong từng chiếc điện thoại thông minh. Vì vậy, phương thức PBGDPL cũng phải đổi mới, để người dân có thể dễ dàng tìm, hiểu và vận dụng vào những tình huống cụ thể của cuộc sống.

Các sản phảm được tái chế từ rác thải nhựa. Ảnh | Trần Hải

Chủ động thích ứng, kiến tạo phát triển

Các văn kiện Đại hội XII, XIII và XIV của Đảng đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh nhưng phải bền vững; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu của công tác bảo vệ môi trường. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV vừa ban hành Kết luận số 75-KL/TW, tiếp tục đề ra những quyết sách quan trọng, không chỉ về mục tiêu mà còn về phương thức quản lý và tổ chức thực hiện, với tư duy mới và tầm nhìn xa.

Quang cảnh phiên bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XIV. Ảnh | ĐĂNG KHOA

Kỳ III- Học trong thực tiễn

Mùa thu đã về trong tiết trời trong, nắng sáng, gió lành. 81 năm trước, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân Việt Nam đã vùng lên làm nên một mùa thu lịch sử. Cách mạng Tháng Tám thành công, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Giá trị bền vững của cuộc cách mạng ấy không chỉ ở thắng lợi giành chính quyền, mà còn ở bài học kinh điển về nghệ thuật nhận diện, chuẩn bị và chớp đúng thời cơ lịch sử.

Nhiều bài báo phát hiện vấn đề, cảnh báo nguy cơ, bảo vệ lẽ phải.

Phẩm chất người đảng viên hôm nay

L.T.S: Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, “vừa hồng, vừa chuyên”. Ngày nay cuộc cách mạng công nghệ số đang làm thay đổi gần như mọi nền tảng của đời sống xã hội, từ cách con người làm việc, giao tiếp, đến việc quản lý và ra quyết định. Trong một “thế giới đang bay”, tiêu chuẩn về người cán bộ, đảng viên cũng không thể đứng yên. Thế nào là “hồng” trong thời đại mạng xã hội, trí tuệ nhân tạo và xã hội dữ liệu? Thế nào là “chuyên” khi nhiều tri thức cũ trở nên lạc hậu, liên tục bị thay thế? Và làm sao để người cán bộ vừa giữ vững phẩm chất đạo đức, vừa đủ năng lực dẫn dắt sự đổi thay? Loạt bài “Phẩm chất người đảng viên hôm nay” mong góp thêm một góc nhìn về những câu hỏi ấy.

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh.

Sứ mệnh mở đường cho mô hình phát triển mới

Ngày 19/5, đúng dịp kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới. Với phương châm: “Thành phố Hồ Chí Minh vì cả nước, cả nước vì Thành phố Hồ Chí Minh”, văn kiện này xác định nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng không chỉ của Đảng bộ, chính quyền thành phố mà của hệ thống chính trị cả nước.

Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án đưa và nhận hối lộ xảy ra tại Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế).

Xử lý nghiêm minh, chủ động phòng ngừa

“Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống vừa có chiều sâu chiến lược”.

Thường trực Chính phủ họp bàn giải pháp, cách thức thực hiện cải cách, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh. Ảnh | NHẬT BẮC

Cuộc “đại phẫu” thủ tục hành chính

Luật đã ban hành nhưng nghị định, thông tư vẫn chậm ra đời và có những lỗ hổng để mọc lên cả một “rừng” giấy phép con và thủ tục hành chính đè nặng lên doanh nghiệp, người dân.

Tiết mục trong concert Anh trai vượt ngàn chông gai.

Công nghiệp văn hóa “nhà máy vô hình”

Tháng 5 này, nhân kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhìn lại tư tưởng của Người về văn hóa, chúng ta càng thấy rõ những giá trị bền vững với thời gian.

Nhà báo Hồng Vinh, nguyên Tổng Biên tập Báo Nhân Dân.

DẤU ẤN MỘT ẤN PHẨM

Vào một ngày đầu xuân Bính Ngọ (2026), tôi được chứng kiến một cuộc trò chuyện khá thú vị đối với cánh báo chí chúng tôi.

Ông Hồ Mãn, Trưởng ban Tuyên huấn Thị Quảng Hà (Quảng Trị).

Người thầy cầm súng

Cả cuộc đời dấn thân theo Đảng, theo cách mạng, phục vụ nhân dân, Trưởng ban Tuyên huấn Thị Quảng Hà (Quảng Trị) Hồ Mãn - người thầy giáo cầm súng một thời khói lửa chiến tranh luôn tận trung với nước, giữ vững bản lĩnh, kiên cường xông pha gây dựng phong trào, tích cực đóng góp cho sự nghiệp trồng người và công tác tuyên huấn.

Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Ảnh | ĐĂNG KHOA

Tự chủ chiến lược, nghĩ và làm

Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2, khóa XIV của Tổng Bí thư Tô Lâm không chỉ là một lời hiệu triệu chính trị, mà còn là sự định hình lại một trục tư duy phát triển. “Tự chủ chiến lược” được đặt ở vị trí trung tâm, gắn chặt với hai mục tiêu chiến lược 100 năm và yêu cầu hành động đồng bộ của toàn hệ thống chính trị.

Cử tri bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu số 12, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội.

Góp sức cho cuộc bầu cử thành công

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Công tác chuẩn bị được triển khai chủ động, đồng bộ, bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm. Ngày bầu cử thật sự là ngày hội lớn của toàn dân.

Nhà báo Đỗ Doãn Hoàng (phải) thực hiện phóng sự dài kỳ trên Nhân Dân cuối tuần về tình trạng đánh bắt cá trái phép trên hồ Thác Bà (Lào Cai), tháng 1/2026.

Một hành trình dài về dưới bóng “cụ đa”

Ngày đầu tiên đi làm tại Báo Nhân Dân, ngày 1/1/2026, tôi đã đứng chụp ảnh bên gốc đa cổ thụ trong khuôn viên tòa soạn và đăng dòng cảm xúc trên Facebook cá nhân - “được làm việc dưới bóng cụ đa huyền thoại”. Với tôi, đó là sự khởi đầu mới sau hành trình dài bao kỷ niệm, hơn 30 năm.

PGS, TS Phạm Văn Dương, Trưởng phòng Nghiên cứu Bảo tàng, Cục Quản trị (Văn phòng Trung ương Đảng)

Nơi lưu giữ di sản của nhân dân

Dự án xây dựng Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam đang ở giai đoạn khởi đầu, rất khẩn trương, với mục tiêu hoàn thành vào dịp kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2030).

Cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng kiểm tra an toàn bức xạ tại các đơn vị trên địa bàn. Ảnh | THANH HÀ

Những ý kiến tâm huyết của đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng

Với phương châm Đoàn kết-Kỷ cương-Đột phá-Phát triển, Đại hội XIV của Đảng xác định tư duy, tầm nhìn, những quyết sách chiến lược đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Lực lượng công an tham gia Lễ Diễu binh, diễu hành kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Ảnh | THÀNH ĐẠT

Vững bước tiến vào kỷ nguyên mới

Một phần tư thế kỷ XXI đã đi qua. Năm 2026 tiếp nối trong bối cảnh có ý nghĩa đặc biệt: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng diễn ra từ ngày 19/1 đến 25/1/2026.

GS.TS Tạ Ngọc Tấn

“Văn kiện Ðại hội XIV của Ðảng được đổi mới để gần dân, dễ hiểu, dễ tổ chức thực hiện”

Khi công tác xây dựng các dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng bước vào giai đoạn hoàn thiện, GS.TS Tạ Ngọc Tấn, nguyên Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương, Tổ phó Thường trực Tổ Biên tập Văn kiện Đại hội XIV của Đảng dành cho Nhân Dân hằng tháng cuộc trao đổi.