Khơi dòng giá trị từ tài sản trí tuệ

Khoảng cách từ một quyền được bảo hộ đến một tài sản có khả năng sinh lợi vẫn còn khá xa, đòi hỏi chính sách phải nối lại những mắt xích đang rời rạc.

Tài sản trí tuệ đã được xác lập như một cấu phần nội tại của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, đặt ra yêu cầu cấp thiết về khung chính sách hỗ trợ quản trị có tính hệ thống và khả thi.
Tài sản trí tuệ đã được xác lập như một cấu phần nội tại của chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa, đặt ra yêu cầu cấp thiết về khung chính sách hỗ trợ quản trị có tính hệ thống và khả thi.

Một tác phẩm được đăng ký bản quyền rồi sẽ đi đâu tiếp? Ai định giá? Ai mua quyền? Ngân hàng có chấp nhận nó làm tài sản bảo đảm? Khi phát sinh doanh thu, lợi ích quay trở lại người sáng tạo bằng cách nào? Những câu hỏi này được đặt ra tại Tọa đàm khoa học “Định hướng nội dung khung chính sách hỗ trợ quản trị tài sản trí tuệ thuộc các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo tại Việt Nam”, vừa tổ chức tại Trường đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Khoảng trống sau tấm giấy chứng nhận

PGS, TS Nguyễn Mạnh Dũng (đại diện Nhóm nghiên cứu và Hội đồng khoa học Trường đại học KHXH&NV) nhìn nhận ba khoảng trống cần giải quyết: Chuyển di sản thành tài sản trí tuệ (TSTT) và sản phẩm sáng tạo; chuyển bản sắc văn hóa thành TSTT; và khó hơn cả là chuyển TSTT thành dòng tiền.

Theo ông, cách làm hiện nay còn chia theo từng ngành dọc: Di sản, điện ảnh, xuất bản, sở hữu trí tuệ, đầu tư, thị trường… Trong khi sản phẩm sáng tạo lại không vận hành theo những đường biên ấy. Một chuỗi hợp lý phải bắt đầu từ sáng tạo, xác lập TSTT ngay từ đầu, sau đó mới quản trị, định giá, thương mại hóa, phân chia lợi ích và tái đầu tư. Doanh nghiệp và chủ thể sáng tạo nằm ở trung tâm, Nhà nước tạo thể chế và điều kiện cho chuỗi đó vận hành.

Ở góc độ nhà đầu tư, ông Kiều Công Thược, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phát triển Công nghiệp Văn hóa Việt Nam đặt vấn đề thực dụng hơn. Một tờ giấy chứng nhận quyền chưa tạo nên giá trị kinh tế nếu sản phẩm không gắn với mô hình kinh doanh. Muốn TSTT có giá trị, phải biết ai sử dụng, ai trả tiền, dòng tiền hình thành thế nào và được chia cho ai. Bởi vậy, ngoài xác lập quyền còn phải kiểm kê tài sản, số hóa dữ liệu, định danh, định giá, tìm thị trường, tổ chức giao dịch và tính đến khả năng tài chính hóa.

Còn theo TS Phạm Thế Dũng (nguyên Phó Cục trưởng Đổi mới sáng tạo - Bộ Khoa học và Công nghệ), tài sản của công nghiệp văn hóa không giống máy móc, nhà xưởng hay nhiều tài sản của ngành sản xuất truyền thống. Giá trị một bộ phim, ca khúc, format truyền hình, nhân vật game hoặc thương hiệu chịu tác động mạnh của thị hiếu, cộng đồng người dùng và khả năng lan tỏa.

Ba cách tiếp cận thường được sử dụng là theo chi phí, thị trường và thu nhập. Với tài sản sáng tạo, phương pháp thu nhập dựa vào dòng tiền hoặc tiền bản quyền thường có ý nghĩa hơn. Song TS Phạm Thế Dũng lưu ý, không nên áp dụng cứng một phương pháp. Cần định giá chéo, đối chiếu nhiều cách tiếp cận, bởi vòng đời sản phẩm văn hóa ngắn và thị hiếu thay đổi nhanh. Ông chỉ ra nguyên nhân khiến hoạt động định giá TSTT tại Việt Nam bị đình trệ. Đó là thiếu hụt nghiêm trọng cơ sở dữ liệu và số liệu thống kê quốc gia. Doanh nghiệp hiện nay cũng chưa có ý thức tự xây dựng, thống kê và quản trị cơ sở dữ liệu nội bộ của riêng mình.

30 cuộc phỏng vấn của nhóm nghiên cứu cho thấy, nhiều người biết đến sở hữu trí tuệ nhưng lại không xác định rõ mình đang nắm quyền gì. Người biểu diễn là nhóm thể hiện khoảng trống khá rõ, biết phải xin phép tác giả khi dùng tác phẩm, nhưng có người không biết quyền của mình đối với phần biểu diễn. Hệ quả là họ nhận thù lao một lần, trong khi giá trị khai thác tiếp theo thuộc về bên khác. Khoảng trống trung gian cũng hiện rõ. Trong âm nhạc đã có tổ chức đại diện tập thể quyền tương đối phát triển, nhưng ở nhiếp ảnh, mỹ thuật và một số lĩnh vực khác, các dịch vụ giám định, đại diện quyền, định giá, môi giới, giám tuyển còn mỏng.

Nối người sáng tạo với thị trường

Một thị trường quyền muốn vận hành phải biết tài sản đang ở đâu, thuộc về ai, đang được sử dụng thế nào. Vì vậy, dữ liệu trở thành phần hạ tầng không thể bỏ qua. Kinh nghiệm tại Hoa Kỳ cho thấy, Mechanical Licensing Collective vận hành cơ sở dữ liệu hơn 50 triệu bài hát. Các nền tảng nhạc số báo cáo lượt sử dụng, hệ thống đối chiếu để xác định chủ sở hữu và phân phối tiền bản quyền. Người sáng tạo không phải trả chi phí quản lý hệ thống mà phía đơn vị khai thác sẽ chịu khoản chi phí này.

Từ thực tế đó, vấn đề không nhất thiết là Nhà nước phải tự xây và vận hành mọi nền tảng. Nhà nước có thể đặt chuẩn dữ liệu, quy định trách nhiệm cung cấp thông tin, thiết kế cơ chế cấp phép và tạo ra một đơn vị vận hành đủ tin cậy. Ông Hoàng Long Huy, đại diện Cục Công nghiệp văn hóa và Bản quyền tác giả, đề xuất nghiên cứu mã định danh tài sản trí tuệ (IP ID). Mã có thể theo sản phẩm từ lúc hình thành ý tưởng đến sản xuất, phân phối, thương mại hóa. Song song là sàn giao dịch TSTT để người có quyền và người có nhu cầu khai thác tìm thấy nhau. Thiết kế này, theo ông, phải tránh chồng chéo với những hệ thống mã định danh đang có.

Còn ông Lưu Hoàng Long, Cục trưởng Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho rằng, quản trị TSTT phải là một vòng khép kín. Từ tạo lập tài sản, xác lập và bảo hộ, khai thác thương mại và cuối cùng là bảo vệ quyền trước xâm phạm và khai thác thương mại phải trở thành trọng tâm. Bảo hộ vì thế mới là bước đầu. Một tài sản được bảo hộ nhưng không có dữ liệu, không định giá được, không có nơi giao dịch và không tạo được nguồn thu thì phần giá trị kinh tế vẫn nằm im.

Khi dòng tiền từ bản quyền, cấp phép hay thương mại hóa quay trở lại người sáng tạo, câu chuyện mới đi hết một vòng. Không chỉ doanh thu được tạo ra, người làm nghề có thêm nguồn lực để làm tác phẩm tiếp theo. Và chính lúc ấy, TSTT mới thật sự trở thành một phần của công nghiệp văn hóa.

BỐN RÀO CẢN KHIẾN TÀI SẢN TRÍ TUỆ KHÓ TIẾP CẬN VỐN

Theo TS Phạm Thế Dũng, bốn rào cản chính gồm: Thiếu chuẩn hóa phương pháp, quy trình và báo cáo định giá; Thiếu dữ liệu giao dịch, tiền bản quyền và mức tham chiếu; rủi ro pháp lý về sở hữu, thực thi và chuyển giao; Thanh khoản thấp do thị trường thứ cấp chưa phát triển và khó xử lý tài sản. Những điểm nghẽn này đẩy chi phí vốn lên cao, hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp sáng tạo.

Có thể bạn quan tâm

TS Nguyễn Thị Hậu (bên trái) tham gia ban cố vấn Dự án Heritage Ho Chi Minh City của Hội Di sản Văn hóa TP Hồ Chí Minh.

Càng thay đổi nhanh, nhu cầu tìm lại cái đã mất càng lớn

Di sản văn hóa TP Hồ Chí Minh là nguồn “tài sản” giàu tiềm năng kinh tế cho sự phát triển của ngành công nghiệp văn hóa cũng như xây dựng giá trị con người trong thời đại mới. TS Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử thành phố, nguyên Phó Viện Trưởng Nghiên cứu phát triển thành phố chia sẻ với Thời Nay về việc thế hệ trẻ đang lan tỏa giá trị của di sản theo ngôn ngữ của mình.

Nhóm bạn văn chương “Sài Gòn nghĩa tình”.

Văn bút thiện nguyện dâng đời

Văn chương luôn mang tính kết nối sâu rộng. Đôi khi, từ yêu thích tác phẩm đến mối giao hảo bước ra khỏi trang viết là những câu chuyện thắm thiết hai chữ tình nghĩa. Cũng từ đó, tình bạn văn chương tạo ra nhiều nhóm bạn nâng đỡ, chia sẻ và lan tỏa đi một trữ lượng yêu thương trong hành trình sống và viết của họ.

Lắng nghe để học muôn loài

Lắng nghe để học muôn loài

Cuối tháng 3, truyện dài “Hầu vương đảo Hòn Lao” (NXB Trẻ) của nhà văn Lê Đức Dương ra mắt bạn đọc, chưa đầy một tháng đã được tái bản lần hai. Tác phẩm không chỉ hấp dẫn ở cốt truyện phiêu lưu, mà còn mở ra những suy tư lặng lẽ về tự do, ký ức và trách nhiệm, những vấn đề lớn lao được kể bằng giọng văn trong trẻo, giàu cảm xúc.

Một trải nghiệm nghệ thuật dành cho các thí sinh và người tham gia.

Sáng tạo đồng kiến tạo với Riz Lơ Ngơ

Không chỉ có các thí sinh, nghệ sĩ và chuyên gia góp mặt, vừa diễn ra một cuộc thử nghiệm hữu ích cho mô hình “sáng tạo đồng kiến tạo”. Qua đó, cộng đồng không chỉ tham gia chương trình hay từng hoạt động mà trực tiếp đóng góp nội dung, tạo nên giá trị và bản sắc chung cho dự án.

Hội An thu hút khách du lịch nhờ vẻ đẹp cổ kính của phố phường với sự giao thoa kiến trúc độc đáo.

Phát huy giá trị văn hóa thành sức mạnh phát triển (kỳ 1)

Việt Nam có nguồn vốn văn hóa dồi dào và hành lang chính sách trong phát triển văn hóa ngày càng rộng mở. Tuy nhiên khoảng cách từ tiềm năng đến khả năng tạo ra tri thức, sản phẩm, thị trường, sức hấp dẫn và những đóng góp cụ thể cho đời sống vẫn còn nhiều bất cập. Do đó cần nhận diện, tìm giải pháp tháo gỡ kịp thời để văn hóa thật sự trở thành một nguồn lực phát triển đất nước.

Náo nhiệt không khí lễ hội

Náo nhiệt không khí lễ hội

Cùng trong đêm tối thứ bảy (22/8) vừa qua, tại hai khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) và Quy Nhơn diễn ra hai sự kiện khá thú vị nhiệt náo.

Ga Hàng Cỏ. Ảnh tư liệu

“Đánh thức” báu vật “ngủ quên”

Giữa Hà Nội có hệ thống di sản đường sắt, xuyên qua khu phố cổ như một chứng nhân của ký ức đô thị, của sự hình thành một Hà Nội hiện đại. Hệ thống di sản này cần được nhìn nhận như một tài nguyên văn hóa giàu tiềm năng.

Ảnh: K.MINH

Mỗi năm giỗ gộp một lần

Giữa những bộn bề của công việc ngành y tại miền núi xã Nam Trà My. Mỗi chuyến về thăm nhà của anh Phan Văn Tân luôn là một cuộc chạy đua với thời gian.

Hơn 50.000 người đồng thanh hát Quốc ca.

Cùng chung tiếng gọi Tổ quốc thiêng liêng

Tiếp nối dấu ấn của mùa đầu tiên tại Hà Nội, chương trình nghệ thuật chính luận “Tổ quốc trong tim” 2026 do Báo Nhân Dân và UBND Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp tổ chức đã diễn ra tối 23/8 tại Khu đô thị Vạn Phúc, Thành phố Hồ Chí Minh. Nghệ sĩ, khán giả thuộc các thế hệ đã cùng hát, cùng cảm nhận và lan tỏa tình yêu đất nước.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Đăk Dang, Bộ đội Biên phòng tỉnh Lâm Đồng trao đổi về sách trong một buổi sinh hoạt.

Đắp bồi bản lĩnh văn hóa

Những giờ giải lao trên thao trường hay trong các giờ nghỉ, ngày nghỉ, nhiều cán bộ, chiến sĩ tìm đến thư viện, Phòng Hồ Chí Minh, tủ sách đơn vị. Dù quỹ thời gian không nhiều và phương thức tiếp cận thông tin đã thay đổi, việc đọc vẫn được duy trì như nền nếp trong đời sống quân ngũ. Mỗi trang sách góp phần làm phong phú đời sống văn hóa, bồi dưỡng tư duy và nâng cao chất lượng học tập, công tác của người lính.

Trung úy Trần Việt Hoàng, Chính trị viên Đại đội 14, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5, Quân khu 7 lan tỏa giá trị của thơ ca thông qua hoạt cảnh sân khấu.

Trang sách mở đường văn trong quân ngũ

Không ít người lính trở thành nhà văn từ những thói quen rất giản dị: Đọc sách trong thư viện đơn vị, đọc báo ở Phòng Hồ Chí Minh, ghi lại cảm xúc sau chuyến hành quân hay ca trực đêm. Từ trang sách về lịch sử, chiến tranh, con người và cuộc sống quân ngũ, nhiều cán bộ, chiến sĩ dần hình thành nhu cầu suy ngẫm, ghi chép và sáng tạo. Hành trình từ người đọc đến người viết đang góp phần làm giàu đời sống văn hóa quân đội, lan tỏa hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, tiếp nối dòng văn học, báo chí và nghệ thuật quân đội.

Binh nhì Võ Lê Phúc Thịnh, chiến sĩ Đại đội 7, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 4, Sư đoàn 5, Quân khu 7 bên những trang sách cùng gia đình trong buổi thăm thân cuối tuần.

Hệ sinh thái đặc biệt đưa sách đến thao trường

Trong môi trường quân ngũ, mỗi cuốn sách đều trải qua những hành trình đặc biệt trước khi đến tay người lính. Hành trình ấy mang dấu ấn của cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ thư viện, chính trị viên, cán bộ đoàn và nhiều người làm công tác văn hóa ở cơ sở. Qua cống hiến âm thầm mà bền bỉ, họ góp phần kết nối tri thức đồng hành cùng cán bộ, chiến sĩ trong học tập, rèn luyện và thực hiện nhiệm vụ.

Sư đoàn 324 (Quân khu 4) ra mắt mô hình “Tủ sách quân dân” và tặng quà học sinh khó khăn tại bản Ồ Ồ Già Hóp, xã Vĩnh Tường, tỉnh Nghệ An. Ảnh: NGỰ BÌNH

Hành trang người lính thời đại mới

Nhiều tác phẩm ra đời đã lâu vẫn được cán bộ, chiến sĩ tìm đọc. Đó là những công trình nghiên cứu, hồi ký và tác phẩm lý luận của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, các tướng lĩnh và nhà khoa học quân sự… Để di sản tri thức tiếp tục được kế thừa và lan tỏa, cần đưa sách trở thành hành trang trên con đường học tập, rèn luyện và trưởng thành của người lính.

Nhà thơ Hoàng Cầm (trái) và nhà văn Kim Lân gặp gỡ trước cổng Hội Nhà văn Việt Nam ngày 23/3/2000. Ảnh: NGUYỄN ĐÌNH TOÁN

Lấy tình yêu nước, dân tộc, con người để làm thơ, viết kịch

Tháng năm nghề viết cho tôi may mắn được có một số lần gặp, hỏi chuyện nhà thơ “Lá diêu bông” Hoàng Cầm (1922-2010). Khi được nghe ông kể chuyện sáng tác kịch thơ “Kiều Loan” hồi đạo diễn Anh Tú dựng tuyệt phẩm này của ông trên sân khấu Nhà hát Tuổi trẻ năm 2025, anh đang là NSƯT. Lần thì ông hồi ức những kỷ niệm với nhà văn Kim Lân, nhà thơ Lê Đạt khi các ông lần lượt tạ thế. Dịp khác, những kỷ niệm trong trẻo hoa niên đi chơi, đi nghe hát quan họ. Và không thể nào không nhớ đến niềm thắm thiết những tình yêu gửi về các chị…

Lễ hội Ẩm thực chay TP Hồ Chí Minh 2026

Lễ hội Ẩm thực chay TP Hồ Chí Minh 2026

Lễ hội sẽ diễn ra từ ngày 24 đến 30/8 tại Công viên Bình Phú, dự kiến thu hút trên 350 nghìn lượt khách. Với chủ đề “Chọn ẩm thực xanh vì tương lai xanh”, Lễ hội lần thứ ba từ một sự kiện giới thiệu văn hóa và món ăn chay sẽ chuyển sang không gian thúc đẩy hệ sinh thái Ẩm thực xanh-Tiêu dùng xanh-Nông nghiệp xanh-Du lịch xanh và Kinh tế xanh.

Cuộc hành quân có một không hai

Cuộc hành quân có một không hai

Cuốn truyện ký “K8 - Cuộc hành quân ngược chiều” (NXB Hội Nhà văn, 2026) của nhà văn Nguyễn Phương Hà ra mắt vào tháng 4/2026. Chiến dịch K8 là một chủ trương lớn của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ đưa hơn ba vạn học sinh từ vùng tuyến lửa ra hậu phương miền bắc để tiếp tục học tập và cũng là để chuẩn bị lực lượng cho sự nghiệp cách mạng lâu dài.

Nhà thơ Bằng Việt. Ảnh tư liệu

Giữ lửa thơ cháy mãi

Vô hình trung “Bếp lửa” còn trở thành biểu tượng của ngọn lửa thi ca cháy suốt trong cuộc đời nhà thơ.

Ảnh: ANH QUÂN

Những chuỗi hành trình nghệ thuật

Trong hai ngày thứ bảy và chủ nhật cuối tuần qua (15 và 16/8) có một triển lãm ảnh song song với ra mắt sách của nhiếp ảnh gia Nguyễn Á tại Nhà Văn hóa Thanh Niên (số 21 Phạm Ngọc Thạch, phường Xuân Hòa, TP Hồ Chí Minh).

Tái sinh gáo dừa Bối Khê trong vẻ mới

Tái sinh gáo dừa Bối Khê trong vẻ mới

Từng là biểu tượng của sự đơn sơ một thời, chiếc gáo dừa mộc mạc đang được các nghệ nhân làng nghề Bối Khê khoác lên mình “chiếc áo” khảm trai sang trọng.

Tòa thành đất rộng lớn và được coi là cổ nhất khu vực Đông Nam Á.

Nhiều cân nhắc khi sắp làm hồ sơ thế giới thành Cổ Loa

Điều khó nhất với Cổ Loa là khoanh vùng vùng lõi! Đó là lưu ý từ Văn phòng UNESCO tại Việt Nam tại Hội thảo khoa học Nhận diện giá trị nổi bật toàn cầu của Khu di tích Cổ Loa do UBND Thành phố Hà Nội và Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức. Tới đây hồ sơ đề nghị Khu di tích Cổ Loa là Di sản Thế giới sẽ được xây dựng.