Hun đúc sức mạnh đại đoàn kết vì khát vọng chung

Thực tế minh chứng, đại đoàn kết không thể chỉ được thể hiện bằng khẩu hiệu mà phải được cụ thể hóa bằng cơ chế tham gia, đối thoại, phản biện, ghi nhận và sử dụng thực chất những đóng góp của kiều bào. Đó là khẳng định của TS Trần Hải Linh, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam-Hàn Quốc, Chủ tịch sáng lập Hội Chuyên gia, Trí thức Việt Nam-Hàn Quốc, khi trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần.

TS Trần Hải Linh.
TS Trần Hải Linh.

Đại đoàn kết dân tộc là nền tảng xuyên suốt

- Là một Việt kiều nhiều năm sinh sống tại Hàn Quốc, cũng là người có những đóng góp rất tích cực trong việc gắn kết nhân sĩ, trí thức và bà con người Việt tại Hàn Quốc hướng về quê hương, ông có nhận định gì về tinh thần mà Đảng và Nhà nước đã gửi gắm trong Nghị quyết số 23-NQ/TW (NQ23) thay thế Nghị quyết số 36-NQ/TW (NQ36)?

- Đây có thể được coi là một bước phát triển mới về chất, phù hợp vị thế, tiềm lực của đất nước và sự trưởng thành của cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ. Điểm đáng chú ý là NQ23 không chỉ tổng kết những chuyển biến sau 22 năm thực hiện NQ36, mà còn đặt công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong một không gian phát triển hoàn toàn mới.

Thực tế, Việt Nam hôm nay có độ mở kinh tế lớn, hội nhập quốc tế sâu rộng, vị thế quốc gia được nâng cao; đồng thời khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh, kinh tế tri thức và cạnh tranh nguồn nhân lực chất lượng cao đang làm thay đổi căn bản cấu trúc phát triển của các quốc gia. Trong bối cảnh ấy, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài không thể chỉ được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ một cộng đồng cần được vận động, hỗ trợ hay kết nối với quê hương, mà ở vị thế là “một bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới”, và là “lực lượng đồng hành, tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc”.

Theo tôi, đây là sự chuyển dịch tư duy quan trọng: từ “hướng về kiều bào” sang “cùng kiều bào phát triển đất nước”; từ “thu hút đóng góp” sang “kiến tạo cơ chế để nguồn lực kiều bào được phát huy”; từ quan hệ một chiều sang quan hệ đồng hành, tương tác và cùng tạo ra giá trị trên tinh thần đại đoàn kết xuyên suốt.

- Vậy phải chăng với những nội dung cốt lõi, với sự chuyển dịch tích cực về tư duy, NQ23 đã vượt hơn một văn kiện chính trị đơn thuần, thưa ông?

- Đúng vậy! Nội dung có ý nghĩa đặc biệt trong NQ23 là tiếp tục khẳng định: Người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận đặc biệt trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, xuất thân hay địa vị xã hội. Đồng thời, nhấn mạnh những điểm tương đồng và mục tiêu chung: Ý thức dân tộc, lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, khát vọng phát triển, chung sức xây dựng một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây không chỉ là một quan điểm chính trị-xã hội, một văn kiện chính trị đơn thuần, mà là một phương pháp tiếp cận mang tính định hướng có ý nghĩa thực tiễn rất sâu sắc.

Nghị quyết đã thể hiện rõ tinh thần thông điệp của Đảng, Nhà nước mong muốn bày tỏ về sự trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng; đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc, xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Đây là thông điệp có sức nặng rất lớn.

Từ thực tiễn nhiều năm hoạt động trong cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc, tôi nhận thấy khi đồng bào cảm nhận được sự tin cậy, tôn trọng và bình đẳng trong đóng góp, tinh thần hướng về quê hương được khơi dậy rất tự nhiên. Sức mạnh của cộng đồng không chỉ nằm ở số lượng hay tiềm lực tài chính, mà nằm ở niềm tin và khả năng cùng hành động vì một mục tiêu chung.

tr67.jpg
Các đại biểu tiêu biểu đại diện cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về dự Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ tư và Diễn đàn Tri thức và chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài năm 2026. Ảnh: Kiều Hoa

Xây dựng trách nhiệm và hành động vì khát vọng chung của toàn dân tộc

- Trong NQ23, Đảng và Nhà nước đã đặt ra mục tiêu và những cam kết rất cụ thể trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, đột phá, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để đồng bào ở xa Tổ quốc hướng về quê hương. Theo ông, như vậy liệu đã đủ để kết nối, thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực, trí tuệ của người Việt Nam ở nước ngoài đồng hành, trực tiếp tham gia dựng xây đất nước?

- Đây là một định hướng rất đúng và trúng! Những năm qua, chúng ta thường nói nhiều về tiềm năng của kiều bào: nguồn vốn, tri thức, mạng lưới quan hệ, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, khả năng tiếp cận thị trường quốc tế. Nhưng khoảng cách giữa “tiềm năng” và “nguồn lực thực tế” phụ thuộc chủ yếu vào thể chế. Một chuyên gia giỏi có thể muốn đóng góp, nhưng nếu quy trình hợp tác phức tạp, thiếu đầu mối, thiếu cơ chế đánh giá và sử dụng chuyên môn thì sự nhiệt tình khó chuyển hóa thành kết quả. Một doanh nhân có thể muốn đầu tư, nhưng nếu thủ tục, thông tin dự án, cơ chế bảo vệ quyền lợi và khả năng phối hợp thiếu minh bạch, cơ hội có thể bị bỏ lỡ.

Với NQ23, Đảng và Nhà nước đã đặt ra yêu cầu rất rõ về việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chính sách, pháp luật liên quan người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, kiến tạo, phục vụ; có chính sách đột phá để thu hút, kết nối và phát huy hiệu quả nguồn lực, nhất là chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ. Đồng thời, Nghị quyết đề cập trực tiếp các vấn đề thiết thực như quốc tịch, nhà ở, đầu tư, thủ tục hành chính, chuyển đổi số và chất lượng dịch vụ công.

Tôi đánh giá cao yêu cầu tạo thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đời sống chính trị-kinh tế-xã hội của đất nước, đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối, chính sách và tham gia các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là bước tiến từ việc coi kiều bào là “đối tượng của chính sách” sang tạo điều kiện để kiều bào trở thành “chủ thể tham gia phát triển”.

Tuy nhiên, theo tôi, vẫn cần tiến thêm một bước cụ thể nữa. Đó là cần thật sự chuyển hóa từ cơ chế “mời gọi chung” sang cơ chế “đặt hàng cụ thể”. Các bộ, ngành, địa phương cần xác định những bài toán phát triển cụ thể và công bố nhu cầu về công nghệ, chuyên gia, thị trường, vốn, quản trị, đào tạo nhân lực. Khi đó, mạng lưới chuyên gia và doanh nhân Việt Nam toàn cầu có thể tham gia theo dự án, theo sản phẩm và theo kết quả đo lường được.

- Ông có thể chia sẻ cụ thể hơn về vấn đề này, thưa ông?

- Trước đây, đóng góp của người Việt Nam ở nước ngoài thường được nhận diện qua kiều hối và đầu tư. Những nguồn lực đó vẫn rất quan trọng. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên kinh tế tri thức, tài sản có giá trị ngày càng lớn là tri thức, công nghệ, dữ liệu, tiêu chuẩn quốc tế, mạng lưới chuyên môn, khả năng tổ chức đổi mới sáng tạo và năng lực kết nối chuỗi giá trị toàn cầu.

Chúng ta có thể gọi đó là “kiều hối tri thức”. Khác với dòng tiền, kiều hối tri thức có khả năng tạo hiệu ứng cấp số nhân: Một chuyên gia có thể đào tạo hàng trăm kỹ sư; một nhóm nhà khoa học có thể hình thành một phòng thí nghiệm hoặc chương trình nghiên cứu; một doanh nhân công nghệ có thể mở đường cho doanh nghiệp Việt Nam bước vào chuỗi cung ứng quốc tế; một trí thức trẻ có thể kết nối một trường đại học Việt Nam với mạng lưới nghiên cứu hàng đầu thế giới...

Đây là một loại “hạ tầng” đặc biệt quan trọng. Chúng ta cần tiến tới một bản đồ nguồn lực người Việt Nam toàn cầu theo lĩnh vực chuyên môn, địa bàn, khả năng hợp tác và nhu cầu kết nối. Dữ liệu phải phục vụ hành động chứ không chỉ phục vụ thống kê. Chẳng hạn, với ngành bán dẫn, có thể hình thành mạng lưới chuyên gia thiết kế chip, đóng gói-kiểm thử, vật liệu, thiết bị và đào tạo; với công nghệ sinh học có thể kết nối nghiên cứu, thương mại hóa, tiêu chuẩn và thị trường; với chuyển đổi số có thể kết nối doanh nghiệp công nghệ Việt Nam với các tập đoàn, quỹ đầu tư và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc tế.

Tôi tin rằng, khi đất nước trân trọng và kỳ vọng vào đồng bào ở xa Tổ quốc; lắng nghe, bảo vệ và tạo điều kiện cho đồng bào, thì cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài sẽ dốc sức đồng lòng phát huy trách nhiệm, năng lực và vị thế của mình để cùng chung tay xây dựng đất nước Việt Nam ta.

- Trân trọng cảm ơn ông!

Thực tế, NQ 23 đã xác định khá toàn diện bảy nhóm nhiệm vụ, giải pháp, từ đổi mới tư duy, hoàn thiện chính sách, xây dựng cộng đồng, phát huy nguồn lực… Vấn đề quyết định chỉ còn đặt lên vai khâu tổ chức thực hiện. Niềm tin chỉ được hình thành từ những trải nghiệm cụ thể, từ đó xây dựng trách nhiệm và hành động vì khát vọng chung của toàn dân tộc.

Có thể bạn quan tâm

Trại hè "Việt Nam 2026 - tôn vinh tiếng Việt gắn kết cộng đồng" được tổ chức dành riêng cho con em kiều bào ở xa Tổ quốc. Ảnh: UBNVNONN

Giữ tiếng Việt - Giữ một con đường trở về quê hương

Dù ở Tokyo, Paris, Seoul, Bangkok, Vientiane hay bất cứ nơi nào trên thế giới, khi một người trẻ tự hào nói hai tiếng Việt Nam, chúng ta biết rằng quê hương vẫn đang hiện diện trong trái tim các em. Bởi vậy, gìn giữ tiếng Việt không đơn thuần là gìn giữ sự tồn tại của một ngôn ngữ, mà đó là giữ một con đường trở về quê hương.

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.