Khoảng trống còn thiếu

Muốn chinh phục mục tiêu giành từ năm đến bảy Huy chương vàng ASIAD, và phấn đấu có thành tích ổn định ở các kỳ Olympic, thể thao Việt Nam cần nhanh chóng ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào công tác đào tạo và huấn luyện vận động viên. Tuy nhiên, đây vẫn đang là mắt xích yếu nhất, đồng thời là bài toán lớn đầy thách thức ở thời điểm hiện tại.

Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.
Vận động viên Hoàng Quý Phước là trường hợp hiếm hoi thuộc chương trình thí điểm khoa học đặc thù.

Hình mẫu chưa lặp lại sau 15 năm

Cho tới bây giờ, thể thao Việt Nam mới có duy nhất một trường hợp vận động viên được ghi nhận đã vươn tới đỉnh cao nhờ dấu ấn quyết định của việc ứng dụng khoa học công nghệ. Đó là Hoàng Quý Phước, vận động viên bơi hội tụ hàng loạt yếu tố đặc biệt.

Mới 15 tuổi, chàng thiếu niên người Đà Nẵng đã cao tới 1m78, sải tay dài 1m93, cùng đôi chân to và dài hơn hẳn so lứa tuổi. Nếu được đào tạo theo cách thức và môi trường quen thuộc, Phước vẫn sẽ là tay bơi hàng đầu trong nước, song khó vươn ra quốc tế, giống như hàng loạt đàn anh trước đó. Thật may, tài năng trẻ hiếm có này được Viện Khoa học Thể dục thể thao phối hợp địa phương đưa vào diện đầu tư trọng điểm, và trước hết là nhân vật của chương trình thí điểm khoa học đặc thù. Anh được kiểm tra, xác định các chỉ số y sinh và chuyên môn sâu bằng công nghệ hiện đại theo chuẩn thế giới, từ đó dự báo khả năng phát triển và lên kế hoạch tập huấn chuyên biệt.

Nhờ những kết quả đầy hứa hẹn được máy móc chứng thực, ngành thể thao mới có cơ sở vững chắc để đưa Phước ra nước ngoài tập huấn dài hạn với nguồn kinh phí lớn. Cả quá trình sau đó đều được các chuyên gia giám sát, hỗ trợ, cập nhật chặt chẽ, không chỉ theo chu kỳ mà kỹ lưỡng đến từng buổi tập, bữa ăn, giấc ngủ hằng ngày. Bản thân kình ngư trẻ cũng có ý thức và thực hiện đầy đủ, hiệu quả những đòi hỏi gắt gao ấy. Nhờ thế, dù đến với bơi muộn, Phước liên tục đột phá, vượt ngưỡng với điểm rơi rực rỡ tại SEA Games 2011. Anh trở thành vận động viên bơi Việt Nam đầu tiên giành hai Huy chương vàng (nội dung 100m bướm và 100m tự do) ở một kỳ SEA Games, kèm chuẩn B Olympic.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lâm Quang Thành, nguyên Phó Tổng cục trưởng Thể dục Thể thao, nguyên Trưởng đoàn Thể thao Việt Nam, kình ngư Hoàng Quý Phước xứng đáng là mẫu hình để học hỏi, nhân rộng. Và công thức kết đọng ở đây là khoa học công nghệ phải đi đầu trong phát hiện, tuyển chọn những vận động viên năng khiếu, rồi đặt vào một quy trình đào tạo bài bản, dài hạn, gắn với mục tiêu tầm cao ở ASIAD và Olympic.

Tuy nhiên, trường hợp của Phước là hình mẫu hiếm hoi xuyên suốt 15 năm qua.

Nền thể thao “tay trắng” về công nghệ

Trong suốt thời gian dài, việc phát hiện, đào tạo, tập huấn, thi đấu của các đội tuyển quốc gia, chưa nói đến các đơn vị địa phương cơ sở, vẫn chỉ dựa vào truyền thống, kinh nghiệm, năng lực, quyết tâm và nỗ lực của các nhà quản lý, huấn luyện và chính các vận động viên. Có thể dễ dàng nhận ra sự thiếu vắng hoàn toàn các yếu tố, giải pháp khoa học công nghệ, ở cả hai môn cơ bản là điền kinh và bơi lẫn một số môn mũi nhọn hàng đầu như bắn súng, cử tạ, cầu mây, karate...

Điển hình như đội tuyển quốc gia điền kinh, các tuyển thủ tập luyện quanh năm tại Trung tâm Đào tạo vận động viên cấp cao quốc gia cũng không nắm rõ về chỉ số y sinh, hay những thông số chuyên môn của chính mình. Đội cũng không có bác sĩ chuyên trách, máy móc, hay phương tiện hỗ trợ. Họ chỉ nỗ lực miệt mài tập luyện đúng và đủ theo giáo án huấn luyện viên đưa ra.

Hai đội tuyển bóng chuyền nam và nữ quốc gia cũng tập luyện và thi đấu trong thời gian dài, chỉ bằng cảm nhận chủ quan của ban huấn luyện và cầu thủ. Phải tới đầu năm nay, họ mới được cung cấp các thống kê về chỉ số chuyên môn của mình hay của đối thủ tại các giải đấu lớn, khi Liên đoàn Bóng chuyền Việt Nam ưu tiên riêng một nhân sự cho mảng này. Dẫu vậy, mọi thứ mới dừng ở khâu cung cấp dữ liệu thuần túy, chủ yếu để tham khảo và sử dụng một phần nhỏ.

Việc đoàn thể thao Việt Nam gồm 349 tuyển thủ dự tranh ASIAD 20, nhưng chỉ có sáu bác sĩ đi cùng, đã phơi bày một nghịch cảnh: Trung bình mỗi bác sĩ phải “gánh” tới 58 tuyển thủ, ở năm đội tuyển quốc gia.

Rõ ràng, việc ứng dụng khoa học công nghệ còn yếu và thiếu, ảnh hưởng trực tiếp tới mục tiêu nâng tầm của thể thao Việt Nam, trong bối cảnh thể thao thế giới tiến bộ nhanh chóng. Về căn bản, hơn 1.000 tuyển thủ của 40 đội tuyển quốc gia được triệu tập hằng năm đều chấp nhận “tay trắng” về khoa học công nghệ. Và, như đánh giá của chuyên gia Nguyễn Hồng Minh, nguyên Vụ trưởng Vụ Thể thao thành tích cao, nguyên Trưởng đoàn Thể thao Việt Nam, thành tích và tầm mức trình độ, vì thế, chỉ có thể dừng lại quanh đấu trường SEA Games.

Tồn tại một vòng luẩn quẩn, khi Thể thao Việt Nam có đầy đủ đơn vị chuyên trách, từ viện, trường, bệnh viện, trung tâm, song vẫn gặp vô vàn khó khăn, từ cơ sở vật chất, nhân sự, kinh phí. Ngay như đơn vị đầu ngành là Viện Khoa học Thể dục thể thao trước đây, nay là Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch Việt Nam (VICAST), cũng không sở hữu bất cứ hệ thống trang thiết bị nghiên cứu chuyên sâu nào. Hàng loạt dự án, đề tài đều đặn được hoàn thành, nhưng quá ít công trình có tính khả thi hay được ứng dụng, do thiếu tính thực tiễn hoặc thiếu kinh phí triển khai.

Cùng đó, chính ngành thể thao cũng thiếu một chiến lược và sự quan tâm đầu tư thích đáng cho việc ứng dụng khoa học công nghệ. Đơn cử, từ năm 2015, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lần đầu ban hành một thông tư về giám định khoa học, đánh giá trình độ tập luyện và kiểm tra sức khỏe, chỉ tiêu y sinh đối với vận động viên, trước hết là các tuyển thủ quốc gia. Dù vậy, chương trình tưởng như vô cùng quan trọng và thiết thực ấy lại sớm rơi vào cảnh không đi được vào đời sống thể thao, do thiếu giải pháp và nguồn lực tổ chức thực hiện.

Đột phá, hoặc tụt hậu

Có một thực tế rất đáng chú ý: Dù giành ngôi nhất toàn đoàn ở hai trong ba kỳ SEA Games gần nhất, Việt Nam chỉ đứng thứ sáu trong số các nước Đông Nam Á tại kỳ ASIAD gần nhất, và không thể giành huy chương nào ở hai kỳ Olympic liên tiếp.

Sự đột phá trước hết phải đến từ nhận thức, không chỉ với các nhà quản lý, nghiên cứu, huấn luyện, mà chính các vận động viên. Như khẳng định của ông Nguyễn Danh Hoàng Việt, Phó Chủ tịch thường trực Ủy ban Olympic Quốc gia, Cục trưởng Cục Thể dục thể thao Việt Nam: Mấu chốt của vấn đề, sự thay đổi mang tính nền tảng, là đưa khoa học công nghệ trở thành trụ cột trong huấn luyện, đào tạo và thi đấu.

Trước thềm ASIAD, Trung tâm Huấn luyện thể thao quốc gia đưa vào áp dụng hệ thống đánh giá chỉ số sẵn sàng thi đấu (PRI), gồm đo tình trạng thể chất, nguy cơ chấn thương và trạng thái của từng vận động viên theo thời gian thực, để đội ngũ huấn luyện quyết định việc tăng, giảm tải hay yêu cầu phục hồi. Chương trình được triển khai cho nhiều môn trọng điểm như cử tạ, bơi lội, điền kinh, xe đạp, đấu kiếm, taekwondo và quyền anh, theo chu kỳ sáu đến 12 tuần, hướng tới mục tiêu bảo đảm vận động viên đạt trạng thái thể chất tốt nhất. Bên cạnh đó, bốn đội tuyển mũi nhọn được lựa chọn thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác huấn luyện chuyên môn, gồm bắn súng, bắn cung, boxing và taekwondo. Tuy nhiên, tất cả mới chỉ là những bước khởi đầu, mang tính đơn lẻ và thiếu đồng bộ.

Gắn với Chiến lược phát triển thể thao Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045, Chương trình phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị cho Olympic, Asian Games giai đoạn 2026-2046 xác định việc ứng dụng AI, dữ liệu lớn, để tuyển chọn và huấn luyện vận động viên. Ngoài ra, chương trình cũng thành lập phòng huấn luyện công nghệ cao tại các trung tâm huấn luyện quốc gia, đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thể thao, cho 17 môn trọng điểm. Hai lĩnh vực không thể thiếu cũng được triển khai là giám định khoa học đối với vận động viên và phòng, chống doping.

Như bài học 15 năm chưa lặp lại của Hoàng Quý Phước, chuyện làm thế nào để các văn bản đã ban hành được hiện thực hóa vào từng buổi tập, từng bữa ăn, từng giấc ngủ của vận động viên, vẫn sẽ là câu hỏi còn bỏ ngỏ. Bên cạnh những đề án và chương trình dài hạn, thể thao nước nhà cần huy động thêm nhiều nguồn lực cụ thể, để cải thiện cơ sở vật chất, nhân sự, đồng thời thúc đẩy xã hội hóa và hợp tác quốc tế nhiều hơn nữa. Nếu không, khoảng trống mang tên khoa học công nghệ sẽ khó có thể san lấp, và mục tiêu vươn tầm sẽ mãi là đích nhắm xa vờ.

Theo Chương trình phát triển các môn thể thao trọng điểm chuẩn bị cho Olympic, Asian Games giai đoạn 2026-2046, Cục Thể dục Thể thao Việt Nam xác định ứng dụng khoa học công nghệ là một trong những nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm. Trong đó, Cục sẽ đầu tư thêm các thiết bị (như hệ thống phân tích kỹ thuật số, cảm biến chuyển động, GPS tracking...); xây dựng hồ sơ năng lực cá nhân, các phần mềm phân tích cũng như dự báo thành tích; chú trọng khâu phục hồi, dinh dưỡng và y học thể thao (thông qua buồng áp suất, hiệu suất lạnh sâu, thủy trị liệu...); xây dựng hệ thống quản lý vận động viên, hồ sơ điện tử để quản lý toàn diện, phân tích nguy cơ và theo dõi tiến bộ; đào tạo đội ngũ chuyên gia hỗ trợ đa ngành (y sinh học, tâm lý thể thao, phân tích dữ liệu, dinh dưỡng thể thao) để bổ sung vào hệ thống huấn luyện.

Có thể bạn quan tâm

Minh họa: PHAN DUY THANH

Thách thức trong kỷ nguyên dữ liệu

Trong thời đại mà mỗi phần trăm thành tích đều được đo đạc và tối ưu bằng dữ liệu, thế giới đã bước sang cuộc đua mới, nơi cảm biến và những con số có thể quyết định ranh giới thắng thua.

Chuyên gia Dương Đức Thủy

“Chúng ta đã có máy, nhưng lại để trong kho!”

Đó là câu mà chuyên gia Dương Đức Thủy thốt lên trong cuộc trả lời phỏng vấn Nhân Dân cuối tuần. Bởi, vấn đề của điền kinh Việt Nam không chỉ là thiếu thiết bị, mà là thiếu cả thói quen dùng dữ liệu và tư duy chuyên nghiệp, từ nhà quản lý đến chính vận động viên.

Hệ thống SportVU tạo ra cuộc cách mạng ở nhiều môn thể thao tại Mỹ.

Từ tên lửa đến vạch ba điểm

Từ những năm 2005, hai nhà khoa học Israel với chuyên môn theo dõi tên lửa, Gal Oz và Miky Tamir, đã mang phương pháp định vị vật thể trong môi trường biến động đến với thể thao.

Nguyễn Thanh Nhàn ăn mừng bàn thắng mang về Huy chương vàng SEA Games 33, với chiếc "áo yếm" Catapult bên trong.

Cất cánh trên đường băng công nghệ

Thể thao không còn thuần túy là trò chơi của con người, khi những ứng dụng khoa học công nghệ đã đi sâu vào từng ngõ ngách, giúp các chuyên gia “số hóa” năng lực vận động viên bằng hồ sơ vận động chi tiết, từ đó nâng hiệu quả tập luyện và thi đấu.

Công nghệ TrackMan thay đổi hoàn toàn tư duy huấn luyện, sang áp dụng khoa học dữ liệu. Ảnh: Thành Đạt

Bệ phóng cho những “cỗ máy” bắn bóng

Dù sở hữu hệ thống sân tập, thi đấu tiêu chuẩn, cùng số lượng người chơi tăng nhanh, golf Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức trong quá trình đào tạo vận động viên đỉnh cao.

Cầu Trần Hưng Đạo (Hà Nội), công trình hạ tầng trọng điểm, được đẩy nhanh tiến độ từ các chính sách khơi thông nguồn lực đất đai theo Luật Đất đai năm 2024. Ảnh: Thành Đạt

Thể chế hóa chủ trương, mở đường cho phát triển

Trong giai đoạn phát triển mới, việc sửa đổi Luật Đất đai năm 2024 hướng tới thể chế hóa và hiện thực hóa tinh thần xuyên suốt trong Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan.

Dự án Luật Đất đai (sửa đổi) được kỳ vọng sẽ khơi thông nguồn lực đất đai và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp. Ảnh: Thành Đạt

Định vị vai trò mới trong phát triển đất nước

Khi mục tiêu phát triển thay đổi, từ vai trò đến tư duy quản lý, cách thức sử dụng đất đai cũng phải thay đổi. Đây được xác định là nhiệm vụ quan trọng, đã được Nghị quyết số 21-NQ/TW về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan chỉ rõ.

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) phối hợp Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức lấy ý kiến góp ý hoàn thiện Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi). Ảnh: Hữu Hùng

Hoàn thiện cơ chế, tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, cơ quan thẩm định, các chuyên gia, luật sư đối với nội dung dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), nhằm đẩy nhanh tiến trình thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, tạo môi trường đầu tư minh bạch hơn, dư địa khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đất đai phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và tiếp tục tháo gỡ triệt để vướng mắc phát sinh trong quá trình thực thi.

Cơ sở dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu công chứng có chức năng khác nhau nhưng bổ trợ cho nhau.

Bảo đảm an toàn pháp lý trong giao dịch đất đai

Nội dung Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã cơ bản thể chế hóa đầy đủ các chủ trương lớn của Đảng về quan điểm, định hướng sửa đổi Luật Đất đai và các luật có liên quan. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, vẫn có một số vấn đề cần tiếp tục được rà soát, làm rõ, nhất là trong quy trình giao dịch đất đai.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư cho người bị thu hồi đất. Trong ảnh: Người dân bị thu hồi đất phục vụ mở đường ở Đê La Thành về tái định cư tại Khu CT3 Nghĩa Đô, TP Hà Nội. Ảnh: HIẾU MINH

Minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế

Đã có nhiều điểm mới về hình thức bồi thường, chất lượng và địa điểm tái định cư, suất tái định cư tối thiểu cũng như cơ chế xác định giá bồi thường. Song, để bảo đảm tốt hơn quyền lợi của cả chủ đầu tư lẫn người có đất bị thu hồi và hạn chế vướng mắc trong giải phóng mặt bằng, Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) vẫn cần tiếp tục hoàn thiện một số quy định về vấn đề minh bạch giá đất và phương án phục hồi sinh kế.

Không gian trải nghiệm sáng tạo tại Trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học phổ thông tỉnh Lai Châu khuyến khích học sinh làm quen, thực hành kỹ thuật tạo hình truyền thống của các dân tộc tại địa phương. (Trong ảnh: Các em học sinh trải nghiệm thực hành kỹ thuật vẽ sáp ong của đồng bào Mông hoa). Ảnh: Vũ Công

Hoàn thiện hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật hiện đại

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam xác định phát triển văn hóa, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Một trong những mục tiêu đến năm 2030 mà Nghị quyết đề ra là 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa.

Học phần Trải nghiệm hoạt động mỹ thuật của sinh viên Khoa Sư phạm Mỹ thuật, Trường đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương hiện được tích hợp đa dạng các hình thức đánh giá, khuyến khích sự sáng tạo của sinh viên. Nguồn ảnh: NUAE-Khoa Sư phạm Mỹ thuật.

Thúc đẩy tích hợp và tiếp cận liên ngành

Việc các cơ sở giáo dục đẩy mạnh chuyển đổi số, khai thác học liệu số, tăng cường thực hành, trải nghiệm đồng thời phối hợp với các tổ chức, cá nhân triển khai đa dạng các hoạt động giáo dục nghệ thuật trong và ngoài nhà trường, khuyến khích học sinh sáng tạo, cảm thụ và phát huy giá trị văn hóa truyền thống thể hiện rõ tinh thần đổi mới giáo dục nghệ thuật ở nước ta.

Giảng viên và sinh viên Khoa Nghệ thuật, Trường đại học Sư phạm Hà Nội tham gia Chương trình văn nghệ chào mừng “80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam”, tháng 1/2026.

Dịch chuyển phương pháp, chú trọng nguồn lực

Nhân Dân cuối tuần ghi nhận ý kiến của một số nhà nghiên cứu, giảng viên, giáo viên bậc phổ thông về cách thức đổi mới giáo dục nghệ thuật, mức độ ứng dụng công nghệ trong giảng dạy và học tập, giúp cả thầy và trò vừa phát huy được tinh thần sáng tạo, nâng cao nhận thức thẩm mỹ, vừa góp phần bảo tồn, nhân lên giá trị nghệ thuật truyền thống của dân tộc.

Học sinh Trường tiểu học Phương Mai, Thành phố Hà Nội, tham dự Chương trình giao lưu Giáo dục kỹ năng tham gia giao thông an toàn cấp tiểu học năm học 2025-2026.

Để học sinh được sống trong âm nhạc

Giờ đây, chỉ với một thiết bị kết nối internet, mỗi học sinh có thể tiếp cận vô số ca khúc, thể loại và xu hướng âm nhạc của Việt Nam cũng như thế giới. Nhưng nghe nhiều không đồng nghĩa với biết nghe; tiếp xúc âm nhạc thường xuyên cũng chưa chắc tạo nên năng lực cảm thụ âm nhạc. Bởi vậy, bên cạnh việc trang bị kiến thức, tăng cường các hoạt động trải nghiệm cần được xem là một nội dung quan trọng của giáo dục âm nhạc trong nhà trường.

Học sinh Trường THCS Lê Ngọc Hân tham gia triển lãm tranh và giao lưu với các bác, các chú thương binh tại Trung tâm Điều dưỡng thương binh ở tỉnh Ninh Bình. Ảnh: Lê Ngọc

Xây dựng môi trường khuyến khích sự sáng tạo

Giáo dục nghệ thuật ở bậc phổ thông hiện nay là con đường quan trọng để phát triển cảm xúc, khả năng quan sát, tư duy sáng tạo và phát triển nhân cách của học sinh. Trong đó, môn Mĩ thuật góp phần giúp học sinh biết cảm thụ cái đẹp, biết biểu đạt suy nghĩ và cảm xúc của mình, biết sáng tạo và làm cho môi trường sống chung quanh trở nên đẹp hơn.

Cấu trúc mô hình SMART - MUSIC, một phương pháp giáo dục âm nhạc có thể phù hợp với học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt.

Ứng dụng công nghệ trong giáo dục đặc biệt

Việc ứng dụng công nghệ số trong dạy học âm nhạc cho học sinh có nhu cầu giáo dục đặc biệt mở ra khả năng tăng cường tính trực quan, linh hoạt và cá nhân hóa quá trình học tập. Những đặc điểm khác biệt về khả năng chú ý, giao tiếp, ghi nhớ và tốc độ tiếp thu của học sinh tự kỷ hoặc khuyết tật trí tuệ đặt ra yêu cầu lựa chọn nội dung, phương pháp và học liệu phù hợp với từng cá nhân.

Xây dựng trường học hạnh phúc không chỉ là một khẩu hiệu. Trong ảnh: Cô và trò Trường THPT Việt Đức. Ảnh: Thành Đạt

Đổi mới bắt đầu từ người thầy

Năm học 2026-2027 được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt kỳ vọng trở thành một năm học “hoàn toàn khác”, với những chuyển biến thực chất trong chất lượng giáo dục và đời sống nhà giáo.

Phát triển nghề nghiệp thông qua các lớp đào tạo, tập huấn hiệu quả sẽ giúp giáo viên vững bước trên hành trình nghề nghiệp. Trong ảnh: Lớp đào tạo kỹ năng đặt câu hỏi trong môn Ngữ văn tại Trường THCS Nguyễn Du (Hà Nội).

Mọi cải cách đều phải xuất phát từ lớp học

Một chương trình có thể được thiết kế rất hiện đại, một nền tảng số có thể được giới thiệu với nhiều tính năng, một chủ trương có thể đúng về tầm nhìn, nhưng khi bước qua cánh cửa lớp học, chất lượng của đổi mới vẫn phụ thuộc vào người giáo viên. Liệu họ có hiểu chủ trương, tin vào ý nghĩa của nó, có đủ năng lực, thời gian và quyền chủ động để hiện thực hóa nó hay không?

TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo).

Hành lang pháp lý bảo vệ người thầy

Năm học 2026-2027 đánh dấu một cột mốc đặc biệt, khi Luật Nhà giáo chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2026. Lần đầu trong lịch sử giáo dục Việt Nam, vị thế, quyền lợi và trách nhiệm của người thầy được thể chế hóa bằng một đạo luật riêng. Để làm rõ những chính sách mới mang tính đột phá - từ tiền lương, phụ cấp, tuyển dụng đến bảo vệ quyền hành nghề của giáo viên, phóng viên Nhân Dân cuối tuần đã có cuộc trao đổi với TS Vũ Minh Đức - Cục trưởng Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) chung quanh vấn đề này.

Khoảnh khắc cô Vũ Minh Trang, giáo viên chủ nhiệm lớp 6C Trường THCS Nguyễn Du “khoe” những thành quả đáng trân trọng nhất của mỗi giáo viên. Ảnh: Thành Đạt

Khoảng trống sau mỗi tiết dạy

Trên thực tế, nhiều giáo viên cho biết họ có thể hoàn thành tốt các công việc chuyên môn, từ soạn giáo án đến đứng lớp nhiều tiết. Song, điều khiến họ cảm thấy áp lực hơn cả là việc phải xử lý những vấn đề “ngoài giờ”. Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho đội ngũ giáo viên đang được đặt ra cấp bách.

Cô giáo Quàng Thị Diên thường xuyên “lấy mình ra làm gương” tham gia mọi hoạt động với học sinh.

Cúi xuống ngang tầm mắt học sinh

Rời sân trường, điều gì thật sự ở lại trong trái tim một đứa trẻ? Đó chắc chắn không chỉ là những bài giảng từ trang sách, trong giờ học chính.

Công binh mũ nồi xanh Việt Nam lần đầu làm nhiệm vụ tại châu Phi. Ảnh: Thành Đạt

Sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân

“Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định Ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị” – Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh, trong lễ khai mạc Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 (ngày 1/8/2026, tại Hà Nội).

Quỹ “Truyền thống và Hữu nghị” trao tặng bằng khen những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc.

Mang tri thức trở về

Từ nước Nga nhìn về quê hương, hầu như tất cả cộng đồng người Việt Nam tại Nga nói chung và đội ngũ trí thức... nói riêng đều có một niềm tin lớn lao đặt vào tương lai đất nước. Trong tinh thần chung đó, niềm mong mỏi được “trở về Việt Nam”, hay “kết thúc khóa học sớm để trở về Việt Nam” từ các chuyên gia, nghiên cứu sinh, sinh viên... để cống hiến, để làm việc, ngày càng trở nên thiết tha hơn.

Tác giả cùng Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev (giữa) và Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov (bên trái).

Con tàu lớn tiến nhanh về phía trước

Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại thành phố Saint Petersburg Evgeny Grigoriev bước vào cửa, Phó Chủ tịch Vyacheslav Kalganov lên tiếng: “Người bạn phóng viên Báo Nhân Dân à, anh biết đấy, một phần cuộc đời của ông Evgeny Grigoriev đây gắn liền với Đông Nam Á. Và khi tôi đến Ủy ban, ông ấy nói với tôi rằng, ông ấy chỉ có một đề nghị thôi, là hãy dành sự quan tâm lớn đến hợp tác với các nước Đông Nam Á, như Việt Nam, Lào, Campuchia”.

Phó Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế Trần Nhất Hoàng.

Sức mạnh mềm quốc gia có thể đến từ những điều thật giản dị

Được tổ chức định kỳ 5 năm, mỗi kỳ kéo dài sáu tháng, triển lãm World Expo (Expo) là một trong ba sự kiện có quy mô, ảnh hưởng lớn nhất toàn cầu, bên cạnh Cúp Bóng đá thế giới (World Cup) và Thế vận hội Olympic. Tại đây, nhà triển lãm của một quốc gia được ví như hình ảnh thu nhỏ của quốc gia đó, nơi thể hiện những nét đặc sắc nhất về văn hóa và con người, đồng thời chứa đựng một cách sống động những khát vọng chung về tương lai nhân loại.

Những người bạn du khách đến và mang về bao kỷ niệm khó quên với đất nước Việt Nam.

Ra về với hành lý đầy ắp kỷ niệm

Có những vị khách du lịch đến Việt Nam với một chiếc vali trống, rồi lấp đầy nó bằng những câu chuyện, những món ăn, những người bạn…, và cả lời hẹn tái ngộ. Ở chiều ngược lại, những người trẻ Việt Nam sống xa quê cũng đang tìm cách đưa tiếng Việt, những ký ức về quê hương đến với bạn bè quốc tế.