Giữ gìn ngôn ngữ là bảo tồn văn hóa tộc người Dao Tiền

Người Dao sinh sống ở huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng chủ yếu là người Dao Tiền. Tên gọi Dao Tiền xuất phát từ việc ở cổ áo (phía sau gáy) có đính chín đồng tiền, tượng trưng cho vía của thần Ðế Mẫu, vị thần đã có công che chở, nâng đỡ cho người Dao Tiền từ khi còn là bào thai trong bụng mẹ cho đến khi người Dao Tiền trở về với tổ tiên.

Thiếu nữ Dao Tiền xã Hồng Thái, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang thăm lúa trên ruộng bậc thang. Ảnh: Quốc Việt
Thiếu nữ Dao Tiền xã Hồng Thái, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang thăm lúa trên ruộng bậc thang. Ảnh: Quốc Việt

Tôi được sinh ra trong một gia đình người Dao Tiền giàu truyền thống, ông nội tôi tham gia cách mạng từ những ngày đầu cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông bà nội tôi đều là người Dao Tiền, cả đời chỉ quanh quẩn ở vùng núi Nguyên Bình. Thế nhưng, khi tham gia kháng chiến, ông nội tôi đã được tiếp xúc với các chiến sĩ cách mạng từ miền xuôi lên, trong đó có Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, người đã dạy ông tôi tiếng Kinh để có thể giao tiếp tốt hơn với những đồng chí trong đơn vị. Khi tôi lớn lên, bố tôi thường kể cho tôi nghe câu chuyện về cuộc đời hoạt động cách mạng của ông nhưng ấn tượng để lại trong tôi sâu đậm nhất, đó là chuyện ông mở lớp dạy tiếng Kinh cho đồng bào Dao Tiền quê tôi. Rất nhiều người không dám đi học vì họ sợ bị ma bắt đi, sợ ma sẽ không nhận mình là con cháu người Dao Tiền, vì thế bố tôi và các chú trong gia đình trở thành học trò bất đắc dĩ của ông. Bố tôi là người học được nhiều tiếng Kinh nhất. Sau này du học, rồi ra công tác, dù nói thành thạo tiếng Nga, tiếng Trung nhưng mỗi khi về quê bố tôi vẫn sử dụng tiếng Dao Tiền để giao tiếp với mọi người trong bản.

Bố mẹ tôi sinh được ba người con, nhưng cả ba anh em chúng tôi đều không thể sử dụng thành thạo một loại tiếng Dao nào. Vậy điều gì khiến thế hệ thứ ba chúng tôi mất đi tiếng nói của dân tộc mình? Ðể gìn giữ ngôn ngữ của dân tộc, chúng tôi phải làm gì? Ðó vẫn là những câu hỏi lớn mà anh em tôi đang phải tìm câu trả lời. Vì ngôn ngữ không chỉ là một thành tố cơ bản của văn hóa, một biểu hiện của những giá trị nhân văn, mà còn là phương tiện để hình thành và lưu truyền các hình thái quan trọng nhất trong đời sống văn hóa của người Dao Tiền. Giữ được ngôn ngữ của dân tộc mình cũng là góp phần bảo tồn và phát triển sự đa dạng trong văn hóa của người Dao Tiền nói riêng và cộng đồng dân tộc Dao nói chung.

Theo chúng tôi, dù là tiếng Dao Tiền, tiếng Mông hay tiếng Kinh thì môi trường giao tiếp là điều kiện tiên quyết để ngôn ngữ đó tồn tại hay không tồn tại. Muốn giữ được tiếng mẹ đẻ tất yếu phải giữ được những làng bản riêng của từng dân tộc, nếu việc “cộng cư, cộng sinh” có diễn ra thì khi đi học, đi làm có thể giao tiếp bằng tiếng Việt nhưng lúc trở về với gia đình, cha mẹ phải giao tiếp với con bằng ngôn ngữ của dân tộc mình. Làm được điều đó, chắc chắn ngôn ngữ mẹ đẻ của mỗi dân tộc không dễ gì mà mất đi được.

Trong xu thế hội nhập về văn hóa và ngôn ngữ, cùng với sự phát triển mạnh mẽ trong đời sống kinh tế của các dân tộc thiểu số, tiếng Dao nói chung và tiếng Dao Tiền nói riêng đã có những thay đổi nhanh chóng trên nhiều phương diện. Một trong những thay đổi dễ nhận thấy nhất và đang được các nhà nghiên cứu quan tâm đó là tiếng Kinh sử dụng rộng rãi trong làng bản của người Dao dẫn đến tình trạng ngôn ngữ Dao đang dần bị mất đi. Ðể gìn giữ tiếng mẹ đẻ của người Dao, theo chúng tôi cần ba điều kiện cơ bản:

Thứ nhất là điều kiện tự nhiên: Ðịa bàn sinh sống của người Dao nói chung và người Dao Tiền nói riêng phải mang đậm tính chất tộc người, khi sống xen kẽ với các dân tộc khác vẫn phải duy trì ngôn ngữ của dân tộc mình, không để ngôn ngữ phổ thông và ngôn ngữ của các dân tộc khác chi phối.

Thứ hai là điều kiện xã hội: Ngôn ngữ dân tộc Dao (cả ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết) phải được đưa vào dạy trong các trường phổ thông dân tộc nội trú; cần có những biện pháp cụ thể để khích lệ được đồng bào sử dụng rộng rãi tiếng mẹ đẻ trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của dân tộc mình.

Và thứ ba là điều kiện gia đình: Các gia đình người Dao phải là nơi lưu giữ và duy trì ngôn ngữ của dân tộc mình, cha mẹ chính là người giúp các em có nhiều cơ hội sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như khơi dậy lòng tự hào về ngôn ngữ của dân tộc, lấy ngôn ngữ dân tộc làm gốc, từ đó các em nhỏ có vốn ngôn ngữ cơ bản tiếp thu, học tập tiếng phổ thông.

Trước thực trạng tiếng nói và chữ viết của người Dao đứng trước nguy cơ mai một, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng người Dao cần có những chương trình hành động mạnh mẽ hơn. Thí dụ như khuyến khích, vận động người Dao ở các bản làng giao tiếp hằng ngày bằng tiếng dân tộc mình; tuyên truyền cho đồng bào hiểu giá trị của ngôn ngữ mẹ đẻ để họ thấy tự hào, từ đó ý thức hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa dân tộc, tránh tình trạng sử dụng thiên lệch ngôn ngữ của dân tộc khác trong đời sống tộc người.

Tiếp tục thu thập, bảo tồn và phổ biến các văn bản viết bằng chữ Nôm Dao để nâng cao trình độ thưởng thức cũng như giáo dục cho đồng bào biết quý trọng những di sản văn hóa của dân tộc của mình. Ngay bây giờ, chúng ta cần có chính sách lưu giữ, dịch thuật các văn bản văn học của người Dao trước khi những người biết chữ Nôm Dao mất đi. Trên truyền thông đại chúng, nên có thêm thời lượng phát sóng chương trình tiếng Dao với nội dung tuyên truyền, giáo dục ý thức gìn giữ ngôn ngữ của dân tộc mình.

Căn cứ vào những chính sách ngôn ngữ đúng đắn của Ðảng và Nhà nước, chúng ta cần sớm xây dựng một bộ từ điển Dao - Việt và dạy tiếng Nôm Dao rộng rãi trong các trường phổ thông dân tộc nội trú, khuyến khích giới công chức, viên chức người Dao làm việc tại địa phương học và sử dụng tiếng Dao.

Bản thân là người dân tộc Dao Tiền, chúng tôi luôn mong muốn, dù sống ở xa quê hương nhưng ngôn ngữ Dao của thế hệ chúng tôi không bị mất đi để mỗi lần trở về quê sẽ được nghe con cháu người Dao Tiền nói đúng tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng làng bản của mình.

Có thể bạn quan tâm

Các đại biểu, khách mời, nghệ sĩ và thí sinh tham dự chương trình.

Áo dài khoe sắc trong không gian văn hóa xứ trà

Trong khuôn khổ chương trình "Trải nghiệm Vô Tranh - Dấu ấn xứ trà" tại Thái Nguyên, cuộc thi "Duyên dáng xứ trà" và màn trình diễn áo dài dân tộc đã thu hút hàng nghìn người dân và du khách, góp thêm điểm nhấn tôn vinh vẻ đẹp của tà áo dài Việt cùng không gian văn hóa vùng chè giàu truyền thống văn hóa và tiềm năng du lịch.

Những sản phẩm từ tranh sơn mài của nghệ nhân Đinh Văn Hùng. (Ảnh: HÀ THƯƠNG)

Sơn mài Bối Khê giữ “hồn nghề” trong hơi thở mới

Làng nghề Bối Khê từng nổi tiếng với những bức tranh sơn mài được chế tác công phu, nay đã mang một diện mạo khác khi những sản phẩm thủ công mỹ nghệ dần thay thế tranh sơn mài truyền thống. Nghề vẫn tiếp tục phát triển, nhưng sự chuyển mình ấy cũng gợi lên nhiều suy ngẫm về vị trí của tranh sơn mài truyền thống trong làng nghề.

Không chỉ là nơi tranh tài, cuộc thi còn mang đến một không gian biểu diễn chuyên nghiệp, giúp các tài năng piano trẻ có cơ hội cọ xát, tích lũy trải nghiệm và trau dồi bản lĩnh sân khấu.

Tín hiệu tích cực trong việc đào tạo âm nhạc tại Hải Phòng

Nhiều thí sinh nhỏ tuổi tự tin trình diễn những tác phẩm ở chuẩn mực chuyên nghiệp, gần 700 người đăng ký dự thi ngay từ vòng sơ khảo - Cuộc thi Tài năng Piano Hải Phòng 2026 tại Cung Văn hóa Lao động Hữu nghị Việt Tiệp để lại ấn tượng về một phong trào học piano đang lớn dần ở thành phố Cảng.

Thôn bản dân tộc Chứt ở xã Kim Điền, tỉnh Quảng Trị.

Hành trình tìm lại ký ức văn hóa

Dân tộc Chứt là một trong những cộng đồng có dân số rất ít ở Việt Nam, sống tập trung chủ yếu ở Quảng Trị, Hà Tĩnh. Trải qua những biến động lịch sử cùng quá trình giao lưu văn hóa kéo dài, nhiều giá trị truyền thống của người Chứt đã dần mai một, trong đó có trang phục.

Đồi mâm xôi (Lào Cai) thu hút đông đảo du khách vào mùa lúa chín.

Từ bản sắc vùng miền đến sinh kế cộng đồng

Thời gian qua, nhiều cộng đồng vùng cao lựa chọn khai thác những yếu tố cảnh quan thiên nhiên, nghề truyền thống, tập quán sinh hoạt... để xây dựng các sản phẩm du lịch và kể câu chuyện văn hóa của địa phương. 

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang (bên trái) nhận sách "Những gì tôi thấy ở Việt Nam" từ Viện trưởng Viện Phim Việt Nam Lê Thị Hà và Ngài Đại sứ Azerbaijan tại Việt Nam.

Nghệ sĩ Nhân dân Trà Giang và những trang sách ký ức của người thầy

Hơn 60 năm trước, theo lời mời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố nhà văn, đạo diễn Ajdar Ibrahimov người Azerbaijan đã sang Việt Nam để gieo những hạt giống đầu tiên cho nền điện ảnh cách mạng. Mùa hạ năm nay, ông đã trở lại đất nước Việt Nam hằng yêu mến qua cuốn sách của mình cùng cuộc hội ngộ thiêng liêng tình thầy trò.

Triển lãm thu hút đông đảo công chúng thưởng lãm các tác phẩm hội họa. (Ảnh: Ban tổ chức)

Kết nối mỹ thuật Việt Nam-Trung Quốc qua triển lãm "Đồng nguồn sơn thủy-Cộng sinh văn minh”

Chiều 28/6, tại Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam (số 2 Hoa Lư, phường Hai Bà Trưng, Hà Nội), Hội Mỹ thuật Việt Nam phối hợp Học viện Nghệ thuật Quảng Tây (Trung Quốc) và Hội Xúc tiến Trường phái hội họa Ly Giang Quảng Tây khai mạc triển lãm “Đồng nguồn sơn thủy-Cộng sinh văn minh".

Hội thảo thu hút sự quan tâm của đông đảo giới chuyên gia nghiên cứu. (Ảnh: MINH DUY)

Đền Cơ Xá trong mạch nguồn văn hóa Thăng Long

Sáng 28/6, Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã phối hợp cùng Tiểu ban quản lý di tích đền Cơ Xá tổ chức hội thảo khoa học “Đền Cơ Xá và việc phụng thờ Thái úy Lý Thường Kiệt trong không gian văn hóa Thăng Long-Hà Nội xưa và nay”.

Buổi họp báo thu hút đông đảo báo giới, nghệ sĩ, nhà làm phim. (Ảnh: ANH ĐÀO)

Vinh danh điện ảnh châu Á và Việt Nam

Liên hoan phim châu Á-Đà Nẵng là dịp vinh danh những tác phẩm điện ảnh châu Á và Việt Nam, đồng thời cũng tạo những cơ hội kết nối điện ảnh Việt Nam ra thế giới. Liên hoan phim chính thức khai mạc ngày 28/6 với rất nhiều hoạt động sôi nổi dành cho khán giả và giới chuyên môn. 

Lễ trao giải quy tụ sự tham gia của hàng trăm kiến trúc sư, nhà thiết kế, doanh nghiệp khách sạn-du lịch... đến từ gần 20 quốc gia, vùng lãnh thổ châu Á. (Ảnh: BAN TỔ CHỨC)

Tổ chức Giải thưởng châu Á vinh danh các dự án kiến trúc, du lịch xuất sắc

Tối 26/6, Lễ trao Giải thưởng Kiến trúc châu Á (Asia Architecture Design Awards - AADA) và Giải thưởng Du lịch, Lữ hành châu Á (Asia Hospitality Awards - AHA) 2026 diễn ra tại hang Ngọc Rồng, Quảng Ninh. Với nhiều đại diện được xướng tên, Việt Nam tiếp tục khẳng định dấu ấn của kiến trúc và du lịch trên bản đồ châu Á.