Dưới tán chè cổ thụ Nà Thác

Bản Nà Thác (xã Phương Ðộ, thành phố Hà Giang) có khoảng trăm nóc nhà, hầu như nhà nào cũng gắn bó với những gốc chè cổ thụ. Gốc chè to đến mấy người ôm, được ví như ngôi nhà sàn của người Dao áo chàm trên triền núi Tây Côn Lĩnh. Ðời sống nhân dân gắn với cây chè. Giá trị văn hóa, giá trị kinh tế cũng từ đó mà ra.
Ðồng bào dân tộc Dao áo chàm thu hoạch chè cổ thụ. Ðồng bào dân tộc Dao áo chàm thu hoạch chè cổ thụ.
Ðồng bào dân tộc Dao áo chàm thu hoạch chè cổ thụ. Ðồng bào dân tộc Dao áo chàm thu hoạch chè cổ thụ.

Theo nếp sinh hoạt của người bản Nà Thác, sáng sớm hương thơm đã tỏa ấm nhà, lan ra cả ngoài nương lúa. Tình người ấm như chén trà vừa rót, lời người đượm tựa vòm hương bát ngát núi rừng.

Bâng khuâng huyền tích…

Một năm người Dao được hái chè bốn lần, còn không thì chỉ được hai lần. Chè xuân là vụ đượm nhất của năm, bởi sau một mùa đông dài giá buốt, sương muối phủ trắng núi rừng, cây cối cả một vùng cằn cỗi, héo khô, chè cổ thụ vẫn giữ mình bằng cách mọc mốc trên thân để ủ ấm cho cả cây.

Ðến khi khí trời ấm lên, sương giá tan dần thì tuyết bám ở thân cây dường như tụ lên mỗi búp chè để dâng cho con người cái tinh túy của đất trời thông qua búp chè và lá non.

Ðồng bào Dao phải trèo lên mới hái được, không thể dùng dao hay kéo để cắt chè. Ít khi đàn ông Dao làm công việc hái chè, nhưng người trồng chè nhất định phải là đàn ông.

Từ việc chọn đất, chọn giống chè phải là đàn ông, để rồi sau mấy trăm năm, sau mấy đời người, khi những búp chè như những ngón tay thon vươn lên trong sương trắng thì dành cho phụ nữ sẽ hái.

Theo quan điểm của đồng bào Dao, sự thịnh vượng của một dòng họ, một gia đình chỉ cần nhìn vào rừng chè là đoán biết được. Ở bản Nà Thác, những gia đình có rừng chè gốc to vài người ôm được gọi là dòng chính tông, cha truyền con nối. Nét cổ thụ của rừng chè còn thể hiện dòng họ ấy có lộc, có phúc nối dài.

Hái chè quá trưa, đầy một sọt chè đeo bên hông, những người phụ nữ mới xuống núi. Về đến nhà phải tãi ra cho chè thở rồi bắt đầu sao chè. Ðồng bào nơi đây cho rằng phải sao chè ngay khi búp chè chưa kịp héo thì mới giữ được khí chất của đất trời.

Củi sao chè phải là củi tốt, than đượm thì mới đủ sức nóng làm búp chè có tuyết. Chính vì thế, từ xưa, đồng bào gọi đây là chè Shan tuyết. Shan, âm Hán-Việt là núi, núi cao mây trắng; tuyết là búp nổi trắng sau khi sao. Chè trồng ở vùng thấp không thể có đặc tính này.

Ngày nay, sau bao đời người cây chè shan tuyết trên vùng người Dao đã được gọi là Shan tuyết cổ trà. Trà Shan tuyết cũng chính là nguyên liệu để làm nên thương hiệu trà chốt những năm 80 của thế kỷ trước. Trà chốt là trà của bộ đội trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc.

Những lúc ngưng tiếng súng, những người lính hái chè, sao trong hầm trên chốt, sao bằng khay hoặc ăng-gô đựng thức ăn, rồi lại uống bằng ăng-gô ấy. Vị trà Shan tuyết khi bộ đội ta được thưởng thức ở các chốt đã để lại trong lòng những người lính ấy một hương vị khó quên.

Cho đến bây giờ, khi trở lại mặt trận Vị Xuyên, các cựu chiến binh đều muốn được thưởng thức lại hương vị trà chốt từ những cây đại cổ thụ trên dọc tuyến biên giới. Ngày ấy, khi về phép, bộ đội cũng thường mang về một chút "trà chốt" tự tay mình hái và sao để mời gia đình, bà con thưởng thức.

Chè ở vùng Shan tuyết cổ trà pha nước suối của dãy Tây Côn Lĩnh vào mỗi sớm. Việc đầu tiên của phụ nữ người Dao là dậy sớm đun nước pha trà. Bếp ấm, nước nóng và hương thơm ngào ngạt khắp gian nhà sàn.

Ở gian nhà giữa, nơi chỉ dành cho những người đàn ông trụ cột trong gia đình và hướng ra cửa sổ, nhìn ra triền ruộng bậc thang như những nấc thang lên trời, xuống đất mà bao đời cày cuốc của các thế hệ người Dao đang bắt đầu được trời đổ nước, trong khi sương sớm đang tràn từ ruộng trên xuống ruộng dưới để ủ cho đất thêm màu mỡ.

Đổi thay nhờ chè

Khi người đàn ông sao chè thì người phụ nữ chụm củi. Sự hun đúc ấy kết hợp thành một quy tắc tự nhiên tự khắc có được những mẻ chè ngon. Nó tự lên hương, tự lên sắc khi được tích tụ khí đất hương trời với tấm lòng và công sức của con người.

Mỗi năm, người Nà Thác thu được gần 10 tấn chè tươi, để rồi qua bàn tay điệu nghệ của người yêu chè được khoảng vài tấn thành phẩm. Cùng với thảo quả, trà Shan tuyết đã góp phần nâng cao đời sống của bà con, thu nhập bình quân đầu người khoảng 5-6 triệu đồng/ tháng. Chè cổ thụ đã kéo người muôn phương đến với Nà Thác, để trên bản đã có các hộ làm dịch vụ homestay như các gia đình họ Lý: Lý Văn Quằn, Lý Văn Xiểm, Lý Văn Thiệp, Lý Văn Ơn, Lý Văn Thiểu.

Trên những ngôi nhà sàn rộng rãi, các nếp văn hóa cổ truyền của người Dao cũng được dịp khoe sắc, khoe âm. Những lời hát Páo Dung đều đặn vang lên mỗi tối khi nhà nào có du khách ghé thăm. Những lời cọi giao duyên đã đượm từ chén rượu nồng lên môi nam thanh nữ tú trên bản, lan sang khách mỗi khi thấm cái tình, cái sắc của người con gái Dao.

Những mẻ trà lên hương mà không cần đánh hương, lên tuyết mà không cần đánh tuyết như chè trồng mới. Một lượt sao héo, rồi đổ ra mẹt vò, người vò thường là đàn ông, bởi tay đàn ông khỏe, vò chè bằng cả sự vững vàng của người trụ cột trong gia đình, để búp chè xoăn và dai mà lại không vụn. Lại đổ vào chảo sao lần hai cho khô, lúc này sao phải khéo léo, nhẹ nhàng để búp chè vừa vò được xoăn đẹp, được lên tuyết trắng mà lại không bị gãy cánh chè.

Lần sao thứ hai, phải canh lửa, rút lửa nhỏ đi, chỉ để than đượm để sức nóng của than nghiến đỏ rực làm chè khô mà không cháy, làm chè giòn mà không vụn.

Cùng là đi hái trà trên rừng trà cổ thụ, cùng sao trên lửa đượm, nhưng khi ra thành phẩm thì mỗi nhà sẽ mỗi khác. Dáng cánh chè đẹp mã hay không, đượm hương hay không, sâu nước hay không phụ thuộc vào cách của mỗi nhà.

Chè khi đã thành Shan tuyết cổ trà thì bảo quản là công việc của người phụ nữ. Giữ trà cho được hương, cất trà cho được mã là cả một sự khéo léo giống như cách người phụ nữ khéo léo, vun vén để giữ hạnh phúc trong mỗi gia đình. Trà Shan tuyết phải để trên nhà sàn, trên sàn trên, sao cho khô thoáng.

Thưởng trà Shan tuyết ở đầu núi là thưởng cả bề dày về văn hóa, thưởng cả quan niệm về nhân sinh quan, thế giới quan để chiêm nghiệm, để sống như những cây chè cổ thụ trên đỉnh Tây Côn Lĩnh, ngấm sương gió quanh năm mà vững vàng trước bão giông cuộc đời. Nếu ai được uống chén trà Shan tuyết cổ thụ coi như đã được thưởng thức thêm cả một phần văn hóa của người Dao và cảm nhận hương vị của đất trời ban tặng cho con người.

Có thể bạn quan tâm

Những không gian hoa mai anh đào trên phố núi Đà Lạt nở rộ, sắc hoa như "môi hồng người mình yêu" làm bao tâm hồn lữ khách ngẩn ngơ, say đắm.

[Ảnh] Đà Lạt nồng nàn sắc hoa mai anh đào

Khi những ngọn gió đông đã lướt qua đại ngàn, bầu trời Tây Nguyên xanh thẳm - Xuân về. Đà Lạt bừng sinh khí mùa xuân, những nụ mai anh đào "ngậm sương" thiếp đi trong mùa đông và "tỉnh giấc" trong vẻ đẹp tình tứ đến nao lòng. Đến Lâm Đồng ngàn hoa mùa này để được “nghe tâm tư mơ ước mộng đào nguyên đẹp như chuyện ngày xưa”…

Các đại biểu cắt băng khai mạc triển lãm.

Ninh Bình khai mạc chuỗi triển lãm và hoạt động văn hóa mừng Đảng, mừng xuân 2026

Ngày 3/2, tại Bảo tàng tỉnh Ninh Bình, Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh tổ chức khai mạc triển lãm “Đảng Cộng sản Việt Nam-Sáng mãi niềm tin”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh với các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp” và tái hiện không gian văn hóa chợ quê Tết xưa cùng các hoạt động trải nghiệm văn hóa, trò chơi dân gian.

Phim "Huyền tình Dạ Trạch" có sự tư vấn của nhiều nhà nghiên cứu, giúp tái hiện một phần lịch sử thời dựng nước.

Xây dựng hình tượng các Vua Hùng trong nghệ thuật điện ảnh

Hình tượng Đức Quốc Tổ Hùng Vương luôn trong tâm thức người Việt, từ tín ngưỡng thờ cúng, đến lễ hội, di tích và các truyền thuyết, tư liệu lịch sử, nghệ thuật. Phim “Huyền tình Dạ Trạch” vừa hoàn thành là bước đi ban đầu bù lấp khoảng thiếu vắng về một biểu tượng quốc gia thiêng liêng thời dựng nước trong điện ảnh.

Tác phẩm “Ngựa hoa mai” cõng diều trên lưng chào Xuân 2026.

Ngựa hoa mai “bay” cùng giấc mơ ký ức

Từ chú ngựa gốm nhỏ ra đời cách đây sáu năm, dòng “ngựa hoa mai” xuân này đã trở thành tác phẩm gửi gắm tinh thần đầy nhân văn về sự tiếp nối của bản sắc Việt trong mỹ thuật đương đại.

Ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam trả lời phỏng vấn của phóng viên TTXVN. Ảnh: Việt Đức - TTXVN)

Trưởng Đại diện UNESCO: Nghị quyết số 80 tạo nền tảng để Việt Nam ứng phó hiệu quả với những thách thức toàn cầu

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 7/1/2026 về Phát triển văn hóa trong kỷ nguyên mới, là dấu mốc quan trọng về tư duy và tầm nhìn phát triển văn hóa, khẳng định vai trò của văn hóa như nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Thắng Lợi. (Ảnh: NVCC)

Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Thắng Lợi chào mừng năm mới với dự án “Mùa chim én bay”

Chào đón năm mới 2026, Nghệ sĩ Ưu tú Vũ Thắng Lợi đã chính thức công bố dự án âm nhạc lớn nhất trong năm mang tên “Live concert: Mùa chim én bay” và album cùng tên. Đây không chỉ là một đêm nhạc cá nhân, mà là lời khẳng định về tâm huyết, chất lượng nghệ thuật và khát vọng cống hiến của người nghệ sĩ-chiến sĩ trong thời đại mới.

Một tiết mục trong chương trình. (Ảnh: THẾ ĐẠI)

Các ca khúc cách mạng “đốt cháy” bầu không khí Hòa nhạc Ánh sáng chào năm mới 2026

20 giờ tối 31/1 tại Quảng trường Cách mạng Tháng Tám, phía trước Nhà hát Lớn Hà Nội (số 1 Tràng Tiền, phường Cửa Nam, thành phố Hà Nội), chương trình Hòa nhạc Ánh sáng chào năm mới 2026 đã diễn ra hết sức sôi động với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ tên tuổi, do Giám đốc sáng tạo, Tổng đạo diễn Đặng Lê Minh Trí thực hiện.

Bìa tập thơ Chấm xanh của nhà thơ Đoàn Trọng Hải.

Chấm xanh trong thơ Đoàn Trọng Hải

Những bài thơ viết về thiên nhiên, đất nước trong “Chấm Xanh” là những lát cắt tinh tế, lặng lẽ mà ám ảnh, nơi thiên nhiên không chỉ hiện diện như một phông nền miêu tả, mà trở thành bạn đối thoại tinh thần của con người.