Xây dựng hình tượng các Vua Hùng trong nghệ thuật điện ảnh

Hình tượng Đức Quốc Tổ Hùng Vương luôn trong tâm thức người Việt, từ tín ngưỡng thờ cúng, đến lễ hội, di tích và các truyền thuyết, tư liệu lịch sử, nghệ thuật. Phim “Huyền tình Dạ Trạch” vừa hoàn thành là bước đi ban đầu bù lấp khoảng thiếu vắng về một biểu tượng quốc gia thiêng liêng thời dựng nước trong điện ảnh.

Phim "Huyền tình Dạ Trạch" có sự tư vấn của nhiều nhà nghiên cứu, giúp tái hiện một phần lịch sử thời dựng nước.
Phim "Huyền tình Dạ Trạch" có sự tư vấn của nhiều nhà nghiên cứu, giúp tái hiện một phần lịch sử thời dựng nước.

Trong nhiều năm qua, các tác phẩm điện ảnh Việt Nam thiếu vắng hình tượng các Vua Hùng thời dựng nước, một biểu tượng văn hóa thiêng liêng về nguồn cội. Sự ra mắt bộ phim “Huyền tình Dạ Trạch” của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội (đạo diễn Tôn Văn) ở các rạp chiếu phim trong cả nước nhân dịp đón Tết Bính Ngọ 2026 đã mang lại những thay đổi mới với sự chờ đón của công chúng.

Không chỉ kể lại thiên tình sử Tiên Dung và Chử Đồng Tử trong truyền thuyết, bộ phim đã nhen nhóm một lời giải cho những người say mê nghệ thuật thứ bảy khi điện ảnh đã chạm vào huyền sử với hình tượng Đức Quốc Tổ Hùng Vương được thể hiện.

ht9-4632.jpg
Các nhà làm phim đã cố gắng thể hiện hình tượng Vua Hùng và Mỵ Nương Tiên Dung như một sự khai phá ban đầu trong sáng tạo điện ảnh.

Gần với tâm thức, nhưng còn xa trên màn ảnh

Trong tâm thức người Việt, các Vua Hùng là một khái niệm gần gũi, thân quen, một sự hiện diện mặc nhiên, bền bỉ và thấm sâu vào huyết quản của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, các thế hệ đã lớn lên với những bài học đầu đời về nguồn cội “Con Rồng Cháu Tiên”, trưởng thành với câu ca dao nằm lòng “Dù ai đi ngược về xuôi/ Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba”.

Vua Hùng không chỉ là một danh xưng trong sử sách, mà đã trở thành một “kiểu gene” văn hóa được di truyền qua hàng nghìn năm. Hình tượng ấy hiện diện uy nghiêm trong tín ngưỡng thờ cúng, sống động trong những lễ hội dân gian rực rỡ sắc màu và gần gũi trong từng trang sách giáo khoa. Có thể nói, mỗi người Việt Nam đều thấy và gặp hình tượng các Vua Hùng ở khắp mọi nơi trong đời sống tinh thần.

Mặc dù vậy, khi bước từ không gian văn hóa tín ngưỡng sang địa hạt của nghệ thuật thứ bảy, có một sự thiếu vắng rõ rệt. Nhìn lại những tác phẩm điện ảnh và truyền hình dòng phim lịch sử, cổ trang của Việt Nam, khán giả dễ dàng bắt gặp những tác phẩm tái hiện triều đại Lý (phim “Khát vọng Thăng Long”), nhà Trần (phim “Trùng Quang tâm sử”), nhà Hậu Lê (phim “Đêm hội Long Trì”, “Thiên mệnh anh hùng”) hay thời Nguyễn, (phim “Ngọn nến hoàng cung”). Điện ảnh cũng khai thác không ít các đề tài giai đoạn lịch sử cận đại. Thế nhưng, thời đại Hùng Vương, kỷ nguyên rực rỡ mở đầu cho lịch sử dân tộc Việt, lại vẫn là một vùng trắng mênh mông trên màn ảnh rộng.

ht6.jpg
Không chỉ có các công cụ, phục trang, không gian sinh sống của những cộng đồng người Lạc Việt cũng được mô tả phục dựng trong phim một cách sống động.

Trong suốt nhiều thập kỷ, hình ảnh thời đại các Vua Hùng chủ yếu chỉ dừng lại ở những thước phim hoạt hình dành cho thiếu nhi như phim hoạt hình “Sơn Tinh Thủy Tinh”, “Thánh Gióng” hoặc trên sân khấu kịch nói, chèo, tuồng, cải lương... nơi tính ước lệ được chấp nhận dễ dàng hơn. Điện ảnh với đòi hỏi khắt khe về tính chân thực của bối cảnh, phục trang và quy mô dàn dựng dường như vẫn còn đứng bên lề.

Điện ảnh cần sự kịch tính, cần những xung đột và số phận riêng biệt. Rất khó để xây dựng một kịch bản theo lối tiểu sử nhân vật hấp dẫn khi nhân vật chính lại mang tính biểu tượng cao và thiêng liêng, thiếu đi những chi tiết đời tư cụ thể để khiến khán giả đồng cảm, tạo ra cảm xúc.

Sự vắng bóng này đặt ra một câu hỏi lớn đầy day dứt: Tại sao một kho tàng chất liệu lịch sử đồ sộ, chứa đựng cả các yếu tố kỳ ảo, lãng mạn và hào hùng như vậy lại chưa được xây dựng trong các tác phẩm điện ảnh? Phải chăng, sự thiêng liêng quá lớn của biểu tượng Đức Quốc Tổ đã vô tình tạo ra một khoảng cách vô hình, ngoài tầm để những nỗ lực sáng tạo của điện ảnh nước nhà có thể với tới?

Những thách thức vô hình với điện ảnh

Để trả lời câu hỏi tại sao hình tượng Vua Hùng vẫn vắng bóng trong nghệ thuật điện ảnh, cần nhìn nhận công bằng rằng khoảng trống này không hẳn do sự thiếu hụt ngân sách hay tài năng, mà xuất phát từ những thách thức, rào cản, khiến cho các nhà làm phim nhiều thế hệ phải chùn bước.

ht11-1306.jpg
Hai nhân vật Chử Đồng Tử và Tiên Dung trong phim "Huyền tình Dạ Trạch" với trang phục và hình xăm của người Việt cổ.

Thứ nhất là áp lực lớn từ một biểu tượng văn hóa tín ngưỡng quốc gia. Khác với các nhân vật lịch sử thông thường, các Vua Hùng trong tâm thức người Việt đã vượt khỏi khuôn khổ của một danh nhân để trở thành một khái niệm tín ngưỡng thiêng liêng. Khi một nhân vật được thần thánh hóa, mọi nỗ lực đời thường hóa để đưa lên màn ảnh đều trở thành một sự đánh cược đầy rủi ro. Một sự sáng tạo về ngoại hình, một biến tấu trong phục trang, hay đơn giản là một câu thoại đời thường của nhân vật cũng có thể kích hoạt làn sóng tranh luận, phản biện.

Các nhà làm phim đứng trước nỗi lo thể hiện chưa đúng về hình tượng thiêng liêng. Liệu có ai dám chắc chắn về một hình tượng Vua Hùng cụ thể mà không lo ngại sẽ chạm vào sự nhạy cảm của văn hóa truyền thống hay hoặc những ý kiến phản biện của dư luận. Chính tâm lý e ngại sáng tạo điện ảnh từ huyền sử đã khiến những nhà làm phim Việt Nam lâu nay chọn các giải pháp an toàn.

Thách thức thứ hai là khoảng trống dữ liệu khi điện ảnh thiếu điểm tựa tham chiếu. Làm phim lịch sử luôn cần tư liệu, nhưng tư liệu về thời đại Hùng Vương lại rơi vào tình trạng giàu hiện vật mà ít về văn bản, chủ yếu dựa vào nghiên cứu khảo cổ học, vào các truyền thuyết và huyền tích dân lưu truyền qua các thế hệ. Khảo cổ học cho chúng ta thấy sự rực rỡ của văn minh Đông Sơn qua trống đồng, qua cây kiếm, mũi tên, mảnh giáp hay các công cụ sản xuất bằng đồng..., nhưng tuyệt nhiên ít có những ghi chép cụ thể về nhân chủng học, về quy chế phục trang hoàng gia hay thiết chế quyền lực.

ht11-3703.jpg
Hình tượng Vua Hùng trong phim "Huyền tình Dạ Trạch" do Nghệ sĩ Nhân dân Trọng Trinh thể hiện.

Các dữ liệu khảo cổ học và nhiều nguồn lịch sử cho thấy sự hiển hiện của thời đại các Vua Hùng, nhưng có thể mô tả như thế nào? Cung điện triều chính thời Lạc Việt ra sao? Mọi thứ đều không thật cụ thể và bảng lảng trong sương khói truyền thuyết. Điều này khác biệt hoàn toàn với các nền điện ảnh lớn trong khu vực.

Tại Trung Quốc hay Hàn Quốc, các hình tượng vua Tổ lập quốc đã được chuẩn hóa qua hàng trăm bộ phim điện ảnh và truyền hình, tạo nên một bộ nhớ hình ảnh tập thể cho khán giả. Ngược lại, điện ảnh Việt Nam hoàn toàn thiếu hệ hình mẫu này. Khi không có tiền lệ, những người làm phim sẽ phải lựa chọn, nghiên cứu rất nhiều trong sự chông chênh về dữ liệu lịch sử và dễ lạc lối giữa lằn ranh của sáng tạo và sự sai lệch.

Cuối cùng, bản chất hình tượng Vua Hùng là khái niệm cộng đồng, chứ không phải một tiểu sử cá nhân cụ thể, là danh xưng chung cho cả một vương triều kéo dài 18 đời, là biểu tượng của tính cộng đồng, của sự đoàn kết, gắn kết từ truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ “trăm trứng nở trăm con”.

Trong khi đó, điện ảnh lại cần sự kịch tính, cần những xung đột và số phận riêng biệt. Rất khó để xây dựng một kịch bản theo lối tiểu sử nhân vật hấp dẫn khi nhân vật chính lại mang tính biểu tượng quá cao, thiếu đi những chi tiết đời tư cụ thể để khiến khán giả đồng cảm, tạo ra cảm xúc. Làm sao để kể chuyện về một vị vua mà không biến ngài thành một bức tượng biết đi, khô khan và giáo điều? Đó là bài toán hóc búa về mặt biên kịch.

ht5.jpg
Trang phục của một Lạc tướng trong phim "Huyền tình Dạ Trạch".

Một lối đi riêng để bắt đầu

Chính trong bối cảnh thiếu điểm tựa, thừa áp lực đó, sự xuất hiện của bộ phim “Huyền tình Dạ Trạch” hứa hẹn mang đến một tín hiệu thú vị. Đạo diễn Tôn Văn dường như đã chọn một nước đi khôn ngoan để giải bài toán hóc búa mang tên lịch sử, thay vì cố gắng dựng lại chân dung Vua Hùng bằng lăng kính tiểu sử cá nhân, bộ phim chọn cách tái hiện thời đại Hùng Vương thông qua đời sống của cư dân Việt cổ.

Trong “Huyền tình Dạ Trạch”, Vua Hùng không bị đặt vào thế kẹt của một nhân vật trung tâm phải gánh vác toàn bộ đường dây kịch tính hay xung đột đời tư. Thay vào đó, Ngài được đặt ở vị trí cao hơn, như một biểu tượng của quyền lực tối thượng, một điểm tựa tinh thần bao trùm lên số phận của Tiên Dung và Chử Đồng Tử. Sự hiện diện của Vua Hùng không cần phải đo đếm bằng thời lượng xuất hiện trên màn hình, mà được cảm nhận qua trật tự xã hội, qua sự thần phục và lòng kính ngưỡng của người dân.

ht7.jpg
Vai Mỵ Nương Tiên Dung do diễn viên trẻ Lê Trần Thanh Tâm thể hiện trong phim.

Đây là lối tiếp cận theo hướng huyền sử, văn hóa. Thay vì mạo hiểm với những hư cấu về dung mạo hay hành vi cụ thể của bậc quân vương, vốn là những điều dễ gây tranh cãi, bộ phim dồn lực vào việc phục dựng không gian sống Việt cổ. Khán giả được dẫn dắt vào thế giới của những nghi lễ, tín ngưỡng phồn thực, tập tục nhuộm răng, xăm mình và đời sống sông nước phóng khoáng của cư dân Lạc Việt. Chính cái không khí đẫm màu huyền thoại ấy sẽ làm nền tảng để gián tiếp gợi hình về thời đại Vua Hùng.

Cách tiếp cận này mang lại lợi ích kép, giúp nhà làm phim tránh được cái bẫy của việc áp đặt một chân dung cá nhân duy nhất cho biểu tượng quốc gia, giảm thiểu những va chạm không đáng có với tâm thức cộng đồng. Về mặt sáng tạo, nó mở rộng biên độ cho trí tưởng tượng bay bổng. Khi không bị trói buộc bởi những dữ kiện lịch sử khô khan, đạo diễn có quyền khai thác tối đa kho tàng văn hóa dân gian (folklore) để tạo nên một thế giới điện ảnh vừa lạ lẫm, vừa thân thuộc.

Để bảo đảm tính xác thực về văn hóa Đông Sơn và thời đại Hùng Vương, ekip thực hiện phim đã dành nhiều thời gian nghiên cứu hơn 20.000 hình ảnh, hiện vật khảo cổ từ các bảo tàng trong nước và ngoài nước, tổ chức nhiều buổi tọa đàm chuyên sâu, tham vấn ý kiến của các nhà sử học, khảo cổ học trong quá trình xây dựng kịch bản, tạo hình và bối cảnh.

Đạo diễn Tôn Văn

Cách làm của những nhà làm phim “Huyền tình Dạ Trạch” chứng minh rằng để bước vào ngôi đền thiêng của lịch sử, đôi khi không nhất thiết phải mở toang cánh cửa chính điện, mà còn có thể đi từ những con đường rợp bóng văn hóa, nơi sự tôn kính lịch sử vẫn được giữ gìn, nhưng không gian sáng tạo thì rộng mở hơn nhiều.

Sự thiếu vắng hình tượng Vua Hùng trên màn ảnh rộng suốt thời gian qua không đồng nghĩa với sự lãng quên. Trái lại, nó phản ánh một thái độ thận trọng cần thiết của những người làm nghệ thuật trước sức nặng của lịch sử và kỳ vọng của công chúng. Vua Hùng không vắng bóng vì chúng ta không nhớ, mà vì điện ảnh Việt vẫn đang miệt mài tìm kiếm một ngôn ngữ phù hợp để chuyển tải sự thiêng liêng ấy thành hình ảnh.

ht8.jpg
Vai Chử Đồng Tử trong phim do diễn viên Nguyễn Xuân Phúc đảm nhiệm.

Tuy nhiên, sự thận trọng không nên trở thành nỗi lo ngại làm tê liệt sáng tạo. Bộ phim “Huyền tình Dạ Trạch” đã phát đi một tín hiệu lạc quan, một sự tiếp cận dè dặt, nhưng cần thiết, rằng điện ảnh Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào vùng đất huyền sử nếu tìm được chiếc chìa khóa phù hợp, đó là sự thấu hiểu văn hóa và một cách tiếp cận tinh tế, khiêm cung.

Theo đạo diễn Tôn Văn, để bảo đảm tính xác thực về văn hóa Đông Sơn và thời đại Hùng Vương, ê-kip thực hiện phim đã dành nhiều thời gian nghiên cứu hơn 20.000 hình ảnh, hiện vật khảo cổ từ các bảo tàng trong nước và ngoài nước, tổ chức nhiều buổi tọa đàm chuyên sâu, tham vấn ý kiến của các nhà sử học, khảo cổ học trong quá trình xây dựng kịch bản, tạo hình và bối cảnh.

Bộ phim có thể chưa phải là câu trả lời hoàn hảo cho mọi kỳ vọng, nhưng là một sự khởi đầu đáng trân trọng. Nó cho thấy các nhà làm phim có thể kể câu chuyện về nguồn cội mà không cần chờ đợi một bộ dữ liệu lịch sử chuẩn xác tuyệt đối, bởi vì văn hóa và tâm thức dân gian chính là kho tư liệu sống động nhất. Chỉ có đặt những bước đi đầu tiên trên hành trình điện ảnh tìm về nguồn cội Việt cổ, chúng ta mới hy vọng tới ngày đến đích và phải bắt đầu từ bây giờ.

anh-phim-21.jpg
Bộ phim dựng lại những sinh hoạt lao động, chiến đấu của cư dân Việt cổ thời Hùng Vương dựng nước.

Có thể bạn quan tâm

Diễn đàn xuất bản số từng diễn ra với sự tham gia của nhiều chuyên gia, doanh nghiệp công nghệ, nhà xuất bản và các đơn vị nội dung số.

Hoàn thiện hệ sinh thái xuất bản trong kỷ nguyên số

Theo đại diện Cục Xuất bản, In và Phát hành, hiện cả nước có 52 nhà xuất bản, năm 2025, toàn ngành thực hiện hơn 51.000 xuất bản phẩm với khoảng 543 triệu bản và lượt truy cập, tổng doanh thu của toàn ngành đạt hơn 4.100 tỷ đồng. Nhiều khó khăn và thách thức đang đặt ra đối với ngành xuất bản.

Áo dài di sản của ba miền bắc, trung, nam được giới thiệu tại chương trình "Sắc màu Việt Nam".

“Sắc màu Việt Nam” – Đưa hình ảnh đất nước con người Việt Nam đến gần hơn với người dân Philippines

Sự kiện “Sắc màu Việt Nam” đã góp phần củng cố giao lưu nhân dân và thúc đẩy hiểu biết giữa Việt Nam và Philippines trong bối cảnh hai nước đang kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao; thể hiện nỗ lực hợp tác văn hóa-du lịch trong bối cảnh ASEAN ngày một chú trọng kết nối cộng đồng và bản sắc văn hóa.

Tọa đàm “Phát huy giá trị lịch sử-văn hóa trong nghệ thuật biểu diễn đương đại”.

Đánh thức giá trị lịch sử-văn hóa qua ngôn ngữ nghệ thuật biểu diễn

Trong dòng chảy không ngừng của xã hội hiện đại, những giá trị lịch sử-văn hóa không chỉ cần được gìn giữ, mà còn cần được lan tỏa bằng nhiều hình thức sáng tạo. Và nghệ thuật biểu diễn chính là một “kênh” hiệu quả để tái hiện ký ức, để những câu chuyện của quá khứ được kể lại sống động, hấp dẫn trong cuộc sống hôm nay.

Nghệ nhân ưu tú Lê Văn Ngộ (áo đỏ) và các nhà nghiên cứu cùng các bạn trẻ đại diện nhóm “Gõ chầu thiên hội”.

Từ điền dã đến không gian số: Hành trình lan tỏa giá trị tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ

Sáng 26/3, tại Thánh đường Thiên Tiên Thánh giáo (thành phố Huế), Dự án “Gõ chầu thiên hội” triển khai chương trình điền dã với chủ đề “Hầu đồng Huế-Hành trình di sản”. Hoạt động tập trung khảo sát thực địa, ghi nhận và bổ sung tư liệu cho nền tảng số hóa các giá trị thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ trên cả nước.

Các họa sĩ đã có hành trình lưu trú và sáng tác với kết quả đáng ghi nhận.

Từ lưu trú sáng tác hình thành góc nhìn mới về Đà Lạt

Trong hành trình lưu trú sáng tác kéo dài hai tháng tại Đà Lạt, 5 họa sĩ đã hình thành những góc nhìn riêng về vùng đất vốn quen thuộc mà giàu tầng sâu văn hóa. Triển lãm "Giấc mộng Hồng hoàng" giới thiệu 43 tác phẩm cho thấy hiệu quả của mô hình tiếp cận gắn sáng tác với trải nghiệm thực tế.

Phim lấy bối cảnh làng nghề làm hương. (ẢNh: VFC)

Người trẻ về quê khôi phục nghề truyền thống trong phim mới “Ngược đường ngược nắng”

“Ngược đường ngược nắng” là bộ phim truyền hình mới nhất của Trung tâm sản xuất phim truyền hình Việt Nam (VFC), khai thác đề tài người trẻ trở về quê hương khôi phục lại nghề truyền thống của cha ông. Phim hội tụ những diễn viên được yêu thích như Đình Tú, Ngọc Huyền, Anh Tuấn, Tú Oanh…

Trích từ một tác phẩm ấn tượng của họa sĩ Quế Chi.

Họa sĩ Quế Chi và hành trình kiến tạo không gian đa tầng cảm xúc

Từ trải nghiệm đa dạng ở các lĩnh vực: hội họa, âm nhạc, điện ảnh, múa... họa sĩ Quế Chi đã từng bước kiến tạo thế giới tạo hình giàu năng lượng và đa tầng cảm xúc. Tiếp nối dấu ấn của "Tương giao 1" (2024), triển lãm "Tương giao 2" cho thấy độ chín trong ngôn ngữ nghệ thuật với chiều sâu và sự mở rộng biên độ cảm xúc.

Nhà thơ-Dịch giả Bùi Xuân tại buổi giao lưu.

Lan tỏa tri thức từ văn học nữ đạt giải Nobel

Ngày 25/3, tại Trường đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng diễn ra chương trình giới thiệu sách “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel - Sống và viết” và giao lưu với nhà thơ-dịch giả Bùi Xuân, thu hút đông đảo giảng viên, sinh viên và người yêu văn học tham dự.

"Giao cảm III" - một trong những tác phẩm sẽ được giới thiệu tại triển lãm "Trong và Ngoài".

Thường thức "Trong và Ngoài" của Nguyễn Trà Vinh

Sơn mài vốn là chất liệu của chiều sâu và sự chờ đợi. Mỗi lớp màu được phủ xuống rồi mài lên là một lần thời gian can dự vào tác phẩm. Họa sĩ Nguyễn Trà Vinh đã khai thác chính đặc tính ấy để đặt ra câu hỏi về ranh giới giữa nội tâm và thế giới chung quanh trong triển lãm "Trong và Ngoài".

Lễ bế mạc Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng năm 2025. (Ảnh: Ban tổ chức)

Điện ảnh Mỹ - Dấu ấn tại Liên hoan phim Châu Á – Đà Nẵng 2026

Diễn ra từ ngày 28/6 đến 4/7, với chủ đề “DANAFF - Nhịp cầu từ Châu Á ra thế giới”, năm nay Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng 2026 mang đến cho khán giả những chương trình phim hết sức hấp dẫn, trong đó điểm nhấn là “Tiêu điểm điện ảnh Mỹ” với những bộ phim tiêu biểu trong dòng chảy lịch sử phát triển điện ảnh.

Các Tổng lãnh sự và đại diện lãnh đạo địa phương tại chương trình. (Ảnh: BTC)

Tiệc trà hữu nghị “Kết nối nhân dân ASEAN”

Chương trình “Kết nối nhân dân ASEAN” là hoạt động có ý nghĩa thiết thực, góp phần tăng cường giao lưu nhân dân, củng cố tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và các nước ASEAN; đồng thời quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam thân thiện, giàu bản sắc văn hóa trong tiến trình hội nhập quốc tế.