Đưa tinh hoa của phở Việt vươn xa

Sau thành công của Festival Phở năm 2024 tại Nam Định, tháng 4 năm nay, sự kiện này sẽ tiếp tục được tổ chức tại Hà Nội, mong chờ lan tỏa những giá trị ẩm thực, văn hóa Việt Nam trong hơi thở ký ức và dấu ấn thời đại. Con đường ẩm thực không đơn thuần làm no lòng thực khách mà còn dẫn dắt quá trình khám phá vẻ đẹp, tâm hồn từng vùng đất, mở ra những cánh cửa văn hóa, lịch sử...

Các nghệ nhân chuẩn bị phở cho khách tại Festival Phở 2024. (Ảnh ND)
Các nghệ nhân chuẩn bị phở cho khách tại Festival Phở 2024. (Ảnh ND)

Phở, cái tên giản dị nhưng lại gợi lên bao ký ức sâu lắng trong lòng mỗi người Việt. Đó là kỷ niệm tuổi thơ với những lần xếp hàng dài bên gánh phở rong nghi ngút khói, nắng mưa gì cũng đợi chờ bằng được. Ai đã rời xa quê hương, đất nước, hẳn không thể quên cảm giác nôn nao, nhung nhớ để rồi sau những chuyến bay dài, qua bao nhiêu vùng đất, quay cuồng với công việc, thời gian vẫn bồi hồi trước bát phở nóng hổi đợi chờ sau cánh cửa sân bay. Với người Hà Nội, phở là một phần văn hóa, một niềm thân thuộc.

Tiếng gõ bát của người bán phở vang lên khua vào không gian tĩnh lặng của phố phường, là lúc những đứa trẻ còn ngái ngủ nhưng đã mơ màng về tô nước dùng trong vắt, miếng thịt bò mềm mại, bánh phở mượt mà chan nước dùng nóng rẫy, dậy hương. Nhà thơ Tú Mỡ trong bài thơ mang tên “Phở đức tụng” sáng tác từ năm 1934 đã viết: “Khói nghi ngút đưa lên thơm ngát mũi/ Như xúc động tới ruột gan bàn phổi/ Như giục khơi cái đói của con tì/ Dẫu sơn hào, hải vị khôn bì”; “Chớ chê phở là đồ ăn hèn mọn/ Dẫu sao thành Ba Lê còn phải đón phở sang…”.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Tiến, người dành rất nhiều thời gian và công sức để tìm hiểu về phở, cho rằng phở có xuất xứ ở Nam Định, bắt đầu từ món bánh phở chan nước xương bán cho công nhân dệt. Dấu ấn còn để lại là nhiều quán phở Nam Định mọc lên tại các tỉnh, thành phố phía bắc. Tuy nhiên, theo ông, còn nhiều giả thuyết về xuất xứ của phở. Nhưng điều đáng tự hào là phở có nguồn gốc từ Việt Nam, chứ không phải món được biến tấu, du nhập từ nước ngoài vào.

Phở Việt được ví như bản hòa tấu của lịch sử, địa lý và văn hóa qua hành trình đi qua bao miền đất, gom nhặt những gì tinh túy nhất để tạo nên một biểu tượng, từ những gia vị mang hương thơm của núi rừng Tây Bắc (hoa hồi, quế, thảo quả...) cho tới sản vật vị biển (nước mắm, sá sùng…). Đó là sự tinh tế của phở thể hiện qua sự kết hợp hoàn hảo giữa các nguyên liệu và gia vị.

Đặc biệt, để có một nồi nước dùng phở hấp dẫn, đúng với hương vị xưa, theo nghệ nhân Lê Thị Thiết - Chủ tịch Hiệp hội Văn hóa ẩm thực Nam Định-Phó Chi hội trưởng Chi hội Nước mắm tỉnh Nam Định, bí quyết ấy chính là thêm nước mắm. Còn với nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực Lê Tân thì nước mắm có vai trò nâng tầm, bạn “đồng liêu” của phở, có vai trò quan trọng trong việc tạo nên hương vị đặc trưng, khó quên.

Người Việt sử dụng nước mắm trong phở một cách tinh tế và linh hoạt, người nấu sẽ nêm nếm từ từ, điều chỉnh lượng nước mắm sao cho vừa miệng, hòa quyện với các gia vị khác như quế, hồi, thảo quả... tạo nên một nồi nước dùng hoàn hảo, tròn vị. Bên cạnh sử dụng vào nước dùng, nước mắm còn để ướp thịt bò trước khi chế biến. Sự đa dạng trong cách sử dụng nước mắm đã tạo nên sự phong phú cho phở Việt, đồng thời thể hiện sự sáng tạo và tinh tế của người Việt trong việc chế biến món ăn này.

Theo các chuyên gia ẩm thực, phở không khởi nguồn từ nơi sang trọng mà xuất xứ bình dân, trên những con phố nhỏ, nơi gánh phở rong tỏa hương thơm ấm nồng trong buổi sáng mùa đông se lạnh. Dù đi đến đâu, dù được nấu theo công thức nào, phở Việt vẫn luôn là sự giao thoa của cả một dân tộc, từ núi rừng đến biển cả, từ bắc vào nam, hòa quyện trong tâm hồn, tình yêu và khát vọng. Phở Hà Nội thanh tao, phở Nam Định đậm đà, phở Sài Gòn biến tấu phong phú…, tất cả góp vào bản đồ phở đa sắc, phản chiếu văn hóa ẩm thực của mỗi vùng miền và của đất nước.

Quan trọng hơn, phở đã và đang vươn ra thế giới. Các quán phở của người Việt ở Mỹ, Pháp, Đức, Nhật Bản... là điểm kết nối bao người con xa xứ luôn bâng khuâng, trăn trở nhớ mong, cũng là điểm dừng chân hấp dẫn níu chân thực khách yêu ẩm thực. Hương vị phở là lời giới thiệu thực tế mà tinh tế nhất về văn hóa Việt Nam với thế giới.

Nhạc trưởng Lê Phi Phi hồi tưởng, từ bé anh đã đi sơ tán, không thể có phở mà ăn. Sau này, học tập rồi định cư ở nước ngoài, những lần hiếm hoi trở về Việt Nam, được ăn phở cùng cha là nhạc sĩ Hoàng Vân và mẹ là bác sĩ Ngọc Anh hay ở bất cứ quốc gia nào anh biểu diễn, khi thưởng thức, không bao giờ anh quên cho vào mấy giọt nước mắm để hương vị đậm đà hơn. Con trai anh, dù mang hai dòng máu Việt Nam và Macedonia nhưng vẫn có thói quen như cha mình.

Những năm gần đây, Việt Nam không ngừng đẩy mạnh du lịch văn hóa-ẩm thực, trong đó những món ăn truyền thống đã thành điểm nhấn của hành trình khám phá cho du khách. Những “phố phở” tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Định… hay tour du lịch ẩm thực ở Hội An, Huế, Đà Nẵng… đều giúp du khách có cơ hội thưởng thức phở ở những không gian khác nhau.

Bên cạnh thưởng thức, du lịch ẩm thực còn mở ra nhiều trải nghiệm sâu sắc. Du khách hào hứng khám phá từng ngõ nhỏ Hà Nội với nếp sống phố phường đậm đà bản sắc; làng nghề làm bánh phở truyền thống ở Nam Định; xem nghệ nhân nấu phở tại quán gia truyền lâu đời; tham gia các lớp học nấu phở để mang hương vị Việt về quê hương, đất nước mình...

Những yếu tố thú vị này vừa giúp nâng tầm phở, đồng thời góp phần quảng bá hình ảnh Việt Nam là điểm đến hấp dẫn. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, phở Việt thực sự đã vượt qua không gian quán ăn truyền thống, xuất hiện trên thực đơn của nhiều nhà hàng quốc tế, được vinh danh tại các bảng xếp hạng ẩm thực thế giới.

Thương hiệu phở Việt trên thế giới đã góp phần giúp hình ảnh đất nước, con người Việt Nam trở nên thân thương, quen thuộc hơn, thôi thúc du khách đến để chiêm ngưỡng phong cảnh, khám phá di sản, thưởng thức một bát phở chính hiệu. Một món ăn trở thành động lực kéo du khách đến một vùng đất, đó chính là thành công lớn nhất của du lịch ẩm thực.

Có thể bạn quan tâm

Nhà báo Hữu Việt và các diễn giả Phạm Thị Kim Oanh, Phan Cẩm Tú tại buổi tọa đàm. (Ảnh: HỒNG QUÂN)

Bảo vệ bản quyền từ góc nhìn của lĩnh vực điện ảnh

Trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, điện ảnh là một trong số những loại hình bị vi phạm bản quyền nhiều nhất. Ở kỷ nguyên số, công nghệ và trí tuệ nhân tạo là sự tiến bộ nhưng cũng là những công cụ đắc lực để sao chép và phát tán sản phẩm điện ảnh, gây ảnh hưởng nặng nề nhiều mặt.

Phối cảnh công trình biểu tượng bông lúa Cà Mau.

"Biểu tượng bông lúa" ở Cà Mau: Không thể bóp méo giá trị văn hóa bằng vỏ bọc "thương dân"

Sự phát triển của một địa phương trong kỷ nguyên mới không chỉ được đong đếm một cách cơ học bằng những con đường rải nhựa, hay những cây cầu bê-tông nối nhịp đôi bờ. Tầm vóc và sức sống của một vùng đất còn được khắc họa đậm nét qua những biểu tượng văn hóa mang tầm nhìn chiến lược.

Cảnh trong vở kịch ngắn “Chuyện nhà chị Tín” của Nhà hát Kịch Việt Nam biểu diễn tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. (Ảnh: THƯƠNG NGUYỄN)

Mở lối để sân khấu tiếp cận công chúng

Không thiếu những cuộc thi, liên hoan được tổ chức rầm rộ, những vở diễn mới liên tục ra mắt mỗi năm, nhưng sân khấu nước ta vẫn đang loay hoay đi tìm khán giả. Lý do tình trạng này là bởi các đơn vị chức năng chưa xây được nhịp cầu đủ mạnh để kết nối với công chúng trong môi trường truyền thông đang thay đổi từng ngày.

Các văn nghệ sĩ trong chuyến đi thực tế tại mỏ than ở Quảng Ninh vào dịp Ngày Thơ Việt Nam năm 2026. (Ảnh: THIÊN AN)

Chuyển động mới của văn học viết về công nhân

Trong dòng chảy của văn học đương đại, đề tài công nhân từng là mạch nguồn quan trọng, được khai thác nhiều, nhưng cũng có giai đoạn gần như vắng bóng. Vài năm trở lại đây, mảng đề tài này được quan tâm hơn, không còn bó hẹp trong khuôn mẫu cũ mà thể hiện góc nhìn đa chiều, gắn với nhịp vận động của xã hội hiện đại. 

Hơn 50.000 khán giả có mặt tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình thưởng thức chương trình “Tổ quốc trong tim”. (Ảnh THÀNH ĐẠT)

Hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa bứt phá

Ngày 24/4, Quốc hội chính thức thông qua Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam với tỷ lệ tán thành cao (477/489 đại biểu). Nghị quyết đánh dấu bước chuyển quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo đà cho văn hóa thật sự bứt phá, trở thành nguồn lực nội sinh và động lực đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn mới.

Nguyễn Bảo Yến (áo vàng) và các thành viên Hội đồng đánh giá luận án và các giảng viên hướng dẫn của Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov.

Nguyễn Bảo Yến: Từ Quán quân Sao Mai đến Tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam ở nước ngoài

Tại Nhạc viện Quốc gia S.V.Rachmaninov bên dòng sông Đông của nước Nga vừa diễn ra một sự kiện đáng nhớ khi Quán quân Sao Mai năm 2015 Nguyễn Bảo Yến bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ chuyên ngành âm nhạc. Cô cũng là nữ ca sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận học vị Tiến sĩ âm nhạc ở nước ngoài.

Các đại biểu cắt băng khai trương Tuần văn hóa Thanh Hóa-Hội An.

Tuần văn hóa kỷ niệm 65 năm kết nghĩa Thanh Hóa-Hội An

Kỷ niệm 65 năm ngày kết nghĩa giữa đô thị tỉnh lỵ Thanh Hóa và Hội An, thành phố Đà Nẵng (1961-2026), tại Công viên Hội An ở phường Hạc Thành, tỉnh Thanh Hóa diễn ra chuỗi hoạt động, sự kiện trong khuôn khổ Tuần lễ văn hóa tôn vinh nghĩa tình Thanh Hóa-Hội An.

Khuôn viên di tích Giồng Bốm là toàn bộ khu vực của Thánh thất Ngọc Minh gồm 3 ngôi nhà: Hiệp thiên đài, Cửu trùng đài và Bát quái đài. (Ảnh: Mộng Thường)

Giồng Bốm 80 năm: Hào khí “đạo không rời đời”

Tám mươi năm là một quãng lùi đủ dài để khói lửa chiến tranh tan vào hư không, nhường chỗ cho màu xanh trù phú phủ lên mảnh đất Phong Thạnh kiên cường. Thế nhưng, thời gian dẫu có bào mòn vạn vật cũng chẳng thể xóa nhòa ký ức bi tráng về rực lửa năm 1946 tại vùng đất cực nam Tổ quốc.

Sinh viên tái hiện đám cưới Nam Kỳ xưa.

Vĩnh Long khơi dậy dòng chảy văn hóa dân tộc trong lòng thế hệ trẻ

Trường đại học Sư phạm kỹ thuật Vĩnh Long vừa tổ chức Chương trình  “Khoa thi Minh kinh bác học” lần thứ I năm 2026. Việc tái hiện không gian khoa bảng xưa và những nghi lễ truyền thống của vùng đất Nam Bộ ngay tại giảng đường không chỉ là sân chơi văn hóa, mà còn là hành trình bồi đắp lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ.

Hình ảnh trong quá trình thực hiện phim tài liệu "Chuyến tàu Hòa Bình".

"Chuyến tàu Hòa Bình" - hành trình cùng ký ức

Từ những thước phim tư liệu, lời kể nhân chứng và các địa danh lịch sử, phim tài liệu "Chuyến tàu Hòa Bình" đặt người trẻ vào vị trí người đi tìm, đối thoại với quá khứ để hiểu giá trị của hiện tại và trách nhiệm gìn giữ hòa bình hôm nay.