Dấu ấn đậm nét của Nguyễn Đình Thi với sân khấu Việt Nam hiện đại

Nguyễn Đình Thi là một tên tuổi lớn trong văn học-nghệ thuật Việt Nam nửa sau thế kỷ 20, với tầm vóc của người nghệ sĩ đa tài mang cốt cách tri thức văn hóa sâu rộng. Dấu ấn của ông để lại ở nhiều hình thức sáng tạo khác nhau, từ nghiên cứu triết học đến âm nhạc, từ thơ đến văn xuôi, lý luận phê bình và "phiêu du" sang cả lĩnh vực kịch, bộ môn được văn hào Nga M.Goóc-ki cho rằng, đó là thể văn chương khó nhất. Và kể cả ở lĩnh vực này, ông cũng để lại những dấu ấn đậm nét trong lịch sử sân khấu nước nhà.

Cảnh trong vở Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi do Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng.
Cảnh trong vở Rừng trúc của Nguyễn Đình Thi do Nhà hát Tuổi trẻ dàn dựng.

Nhân dịp mười năm Ngày mất và hướng tới kỷ niệm 90 năm Ngày sinh của Nguyễn Đình Thi (1924-2003), giới văn nghệ nước nhà lại có dịp bàn thảo và phát hiện thêm những giá trị để lại trong khối lượng tác phẩm đồ sộ đủ các thể loại của ông, trong đó có các tác phẩm sân khấu. Không rõ vì sao, Nguyễn Đình Thi đến với kịch muộn hơn các hoạt động sáng tạo khác. Mãi đến đầu những năm 60 của thế kỷ 20, gần đến tuổi tri thiên mệnh, sau nhiều ngày tháng vật lộn căng thẳng với tập một tiểu thuyết Vỡ bờ, để thay đổi trạng thái tinh thần, Nguyễn Đình Thi mới "thử sức" viết vở kịch đầu tiên Con nai đen, sau khi ông đi xem vở múa rối Vua Nai tại quê hương Cách mạng Tháng Mười.

Năm 1962, vở Con nai đencông diễn trên sân khấu Nhà hát Lớn Hà Nội qua bàn tay đạo diễn của nhà thơ Thế Lữ, gây tiếng vang.

Vở diễn mang phong cách viết kịch mới lạ, độc đáo ở chất kỳ ảo huyền thoại, quyện hòa với tính triết lý sâu lắng như một luồng gió mạnh khuấy động sinh hoạt kịch trường nước ta lâu nay vẫn hiu hiu tĩnh lặng. Với lối viết có tính biểu tượng hai mặt dễ gây hiểu lầm của một thời ít nhiều ấu trĩ trong nhận thức nghệ thuật, không khỏi làm Nguyễn Đình Thi trăn trở, nhưng với bản lĩnh của người nghệ sĩ - chiến sĩ, ông vẫn tiếp tục viết kịch.

Kể từ đó trở đi cho đến năm 1986, trọn một phần tư thế kỷ, Nguyễn Đình Thi đau đáu, mê mải với kịch, hình thái diễn tả đời sống và con người một cách mãnh liệt mà trực diện lạ lùng đến kỳ diệu, vì nó đi thẳng từ nhân vật kịch qua diễn xuất của nghệ sĩ biểu diễn, đến với công chúng trong cùng một không gian và thời gian cụ thể... Nguyễn Đình Thi đã lần lượt cho ra đời loạt kịch bản dài như: Hoa và ngần(1975), Rừng trúc(1978), Nguyễn Trãi ở Đông Quan (1979), Giấc mơ (1979), Tiếng sóng(1985) và mấy kịch ngắn: Người đàn bà hóa đá (1980), Cái bóng trên tường (1981-1982), Trương Chi (1979), Hòn cuội (1983-1986). Tổng cộng tất cả là mười kịch bản, bao gồm sáu kịch dài và bốn kịch ngắn.

Tuy về số lượng không thật dồi dào nhưng cũng không thể nói là ít ỏi. Tất cả những kịch bản đó đều có cái gì đó khác lạ, thậm chí khác thường, thu hút người đọc, người xem bởi chất nhân văn thấm thía với chiều sâu, sức gợi miên man toát lên vừa sáng rõ vừa lung linh, thúc giục công chúng động não suy ngẫm mới có thể phát hiện ra từng tầng bậc chiều kích sâu xa tiềm ẩn của nó.

Dường như đấy mới chạm tới bản chất đích thực khó đạt tới, còn hiếm hoi, nhạt mờ trong sân khấu kịch nói đương đại nước ta...

Trong phương diện này, phải chăng Nguyễn Đình Thi là người truyền cảm hứng, kích hoạt tinh thần sáng tạo cho giới tác giả viết kịch trẻ của sân khấu Việt Nam.

Có thể thấy dấu vết ảnh hưởng từ ý đồ đến cấu trúc của kịch Nguyễn Đình Thi trong một số sáng tác khác của nhiều cây bút viết kịch... Ngay cả trên phương diện đạo diễn, sức lan tỏa cảm hứng sáng tạo của Nguyễn Đình Thi cũng truyền sang tư duy dàn dựng của các NSND Nguyễn Đình Nghi, Ngọc Phương, Phạm Thị Thành,... và được chính họ thừa nhận với sự trân trọng, biết ơn.

Về phương diện biên kịch, có thể thấy những đóng góp của Nguyễn Đình Thi mang tính chất mở đường cho một lối viết cách tân nhằm mở rộng sức bao quát, sức chứa, dung lượng phạm vi đời sống hiện thực của một tác phẩm kịch. Việc đưa cái hư ảo, cái ước lệ nhằm nối dài cho cái tả thực cũng như việc nâng cao chất văn chương, chiều sâu triết lý kết hợp với xúc cảm trữ tình dào dạt trong ngôn ngữ đối thoại kịch là một kiểu mẫu đáng chú ý trong kịch trường nước ta thời gian qua.

T HẾ giới nghệ thuật kịch Nguyễn Đình Thi thật đa dạng, đa chiều, vừa tiếp cận được chiều rộng của hiện thực, vừa đi sâu vào cõi miền bí ẩn, khó dò đoán của nội tâm con người, vừa tìm cách chạm tới chiều cao suy tưởng của trí tuệ, của minh triết dân tộc, của tinh thần thời đại. Kịch Nguyễn Đình Thi, trong những tác phẩm thành công như Nguyễn Trãi ở Đông Quan, Giấc mơ, Con nai đen, Rừng trúcđã đạt tới độ chín trong sáng, giản dị mà sâu lắng, dạt dào cảm xúc mà gợi liên tưởng sâu xa, từ hiện tại ngoái nhìn lại quá khứ, từ hôm nay dự cảm tới ngày mai...

Vượt lên tầm nhìn, cách nghĩ của nhiều cây bút viết kịch khác còn quá bó buộc mình vào lối tả thực, vào cái trước mắt, cái đang xảy ra kịch Nguyễn Đình Thi, ngay khi thể hiện đời sống chiến tranh đang diễn ra, vừa mới đi qua như trong các vở Giấc mơ, Tiếng sóng,vẫn được đẩy xa vào không gian của cái huyền ảo để tạo ra cái nhìn tỉnh táo của gián cách. Ngược lại, khi chiếu rọi cái nhìn trở về với hiện thực lịch sử như trong các vở Rừng trúc, Nguyễn Trãi ở Đông Quan, hoặc khai thác từ kho tàng truyện dân gian như: Con nai đen, Hòn cuội, Người đàn bà hóa đá, Cái bóng trên tường.... lại làm rung lên nhịp đập của đời sống hiện tại, để âm vang thiết tha những tư tưởng, những thái độ sống của con người hiện nay...

Đóng góp của Nguyễn Đình Thi đối với sân khấu Việt Nam hiện đại là một đề tài dồi dào ý nghĩa, cần được đào sâu tìm hiểu thêm nữa. Song điều cần lưu ý, Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ lớn, bộc lộ tiềm năng sáng tạo của mình, ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau, nhưng giữa chúng vẫn thống nhất và quy tụ ở thái độ sống của người nghệ sĩ giác ngộ lý tưởng yêu nước và Cách mạng, nhận ra con đường sáng tạo chân chính của người nghệ sĩ của Cách mạng là "Chiến đấu cho lý tưởng sống bằng ngòi bút".

Kịch là một bộ phận quan trọng kết tinh đậm nét tài năng và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi. Và như một bộ phận, nó gắn bó với toàn thể sự nghiệp sáng tạo của Nguyễn Đình Thi dù vẫn có thể tồn tại một cách độc lập. Ở kịch Nguyễn Đình Thi, chúng ta có thể tìm thấy sự gắn bó những tư tưởng nghệ thuật đã trở thành những biểu tượng ám ảnh xuyên thấm từ thơ, đến tiểu thuyết và ở quan niệm về nghệ thuật của ông. Khó có thể nói rằng, giá như Nguyễn Đình Thi chỉ nên chuyên tâm vào một loại hình sáng tạo cụ thể thì sự nghiệp của ông sẽ thăng hoa, rực rỡ hơn. Đó là một ý tưởng siêu hình không thích hợp với một con người đa tài, đa cảm và phức tạp như Nguyễn Đình Thi của chúng ta!

NGUYỄN VĂN THÀNH

Phó Trưởng ban Lý luận Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam

Có thể bạn quan tâm

Giới thiệu giá trị văn hóa đặc trưng của cộng đồng các dân tộc tại Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam. (Ảnh: BTC)

Giới thiệu văn hóa Chăm Islam giữa lòng Thủ đô

Trong tháng 10, Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam (Đoài Phương, Hà Nội) tổ chức chuỗi hoạt động văn hóa, du lịch với chủ đề “Sắc hương đại ngàn” quảng bá những giá trị văn hóa đặc trưng, tiêu biểu của cộng đồng các dân tộc. Điểm nhấn là giới thiệu không gian văn hóa Chăm Islam tỉnh An Giang. 

Vở diễn mang đến sự gặp gỡ ấn tượng giữa nghệ thuật và công nghệ. (Ảnh: Ban tổ chức)

“Sơn Thần Thủy Quái” - Sự gặp gỡ của nghệ thuật xiếc và công nghệ

Công diễn từ ngày 25/9 tại Hà Nội, vở kịch xiếc “Sơn Thần Thủy Quái” liên tục lấp kín hơn 1.200 chỗ ngồi tại Rạp Xiếc Trung ương. Sức hút ấy không chỉ đến từ những màn trình diễn kỹ thuật xiếc đặc sắc, mà còn ở cách công nghệ được kết hợp với chất liệu văn hóa dân gian để mở rộng ngôn ngữ biểu đạt của sân khấu.

Vương Thị Trang (bên trái) học nghề dệt vải, nhuộm chàm từ mẹ và các chị em trong bản.

Giữ sắc chàm bản địa trên trang phục truyền thống

Bao đời nay, sắc chàm đen huyền trên trang phục truyền thống là một vẻ đẹp riêng của người Nùng An - một nhánh của dân tộc Nùng ở Cao Bằng. Khi nghề dệt vải, nhuộm chàm đứng trước nguy cơ mai một, dự án Nùng Indigo của những người trẻ Cao Bằng đang nỗ lực tạo thêm không gian để gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc.

Đại diện Ban tổ chức, Ban Giám khảo chụp ảnh kỷ niệm cùng các thí sinh tham gia cuộc thi. (Ảnh: Khánh Lan)

Hơn 700 thiếu nhi Việt Nam và quốc tế tham gia Cuộc thi vẽ tranh “Em yêu Hà Nội - Thành phố vì hòa bình”

Cuộc thi vẽ tranh quốc tế góp phần quảng bá hình ảnh Hà Nội - Thành phố vì hòa bình, Thành phố sáng tạo, “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại - Hạnh phúc”, đồng thời giáo dục thiếu nhi về tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu hòa bình và tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa thiếu nhi Việt Nam với bạn bè quốc tế.

Di tích quốc gia đặc biệt Tháp Pô Klong Garai (phường Đô Vinh) - nơi diễn ra nghi thức chính của Lễ hội Katê hằng năm. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Sẵn sàng vui đón Lễ hội Katê 2026

Những ngày đầu tháng 10, không khí đón Lễ hội Katê đã rộn ràng khắp các làng Chăm ở phía nam tỉnh Khánh Hòa. Từ những con đường làng rực rỡ sắc màu đến các đền, tháp cổ kính, mọi công việc chuẩn bị đang khẩn trương hoàn tất. 

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Kể chuyện phố phường và con người Hà Nội qua triển lãm “Mơ về nơi bắt đầu”

Ba họa sĩ, ba phong cách nghệ thuật, nhưng có một điểm chung là tình yêu và những miền ký ức gắn với Hà Nội. Triển lãm chung mang tên “Mơ về nơi bắt đầu” tại Trung tâm Nghệ thuật Area 75 – Art & Auction là nơi các họa sĩ Bùi Tuấn Thanh, Đỗ Doãn Châu và Doãn Hoàng Lâm kể chuyện về con người và thành phố qua hội họa.

Hàng chục nghìn người dân Lai Châu tham dự đêm nhạc Viettel Y-Fest vào tối 3/10 tại Quảng trường nhân dân tỉnh Lai Châu.

Một đêm nhạc, nhiều điểm chạm ở Lai Châu

Chương trình Viettel Y-Fest 2026 lần đầu tiên được tổ chức tại Lai Châu không chỉ mang đến một đêm nhạc sôi động, mà còn mở ra không gian kết nối văn hóa, cảnh quan, ẩm thực và sản phẩm địa phương, góp phần lan tỏa hình ảnh Lai Châu đến với nhiều du khách.

Nghệ sĩ Nhân dân Đồng Văn Minh biểu diễn đàn tre lắc tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. (Ảnh nhân vật cung cấp)

Không gian âm nhạc dân tộc

Theo đề án được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt thì đến năm 2031 Dàn nhạc Dân tộc quốc gia Việt Nam được định hướng trở thành một “không gian nghệ thuật âm nhạc truyền thống Việt Nam”, phục vụ các hoạt động văn hóa trong nước và quốc tế.

Sự kiện nằm trong chuỗi hoạt động của Lễ hội văn hóa thế giới tại Hà Nội lần thứ hai, diễn ra từ ngày 1-4/10 với chủ đề “Hội tụ di sản-Kiến tạo tương lai”. (Ảnh: MINH DUY)

[Ảnh] Gặp gỡ văn hóa, giao lưu nhân dân và kết nối quốc tế tại "Sắc màu năm châu"

Chiều 3/10, phố đi bộ hồ Hoàn Kiếm trở thành không gian giao lưu văn hóa sôi động khi hàng nghìn nghệ sĩ, nghệ nhân và người dân cùng tham gia Lễ hội đường phố “Sắc màu năm châu”. Những trang phục truyền thống, tiết mục nghệ thuật và vũ điệu sôi nổi đến từ nhiều quốc gia đã tạo nên một bức tranh văn hóa đa dạng giữa lòng Thủ đô.

Một buổi dạy đàn Chapi của nghệ nhân xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa cho học sinh Trường Phổ thông Dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà. (Ảnh: NGUYỄN TRUNG)

Khánh Hòa: Học sinh Raglai nối dài tiếng đàn Chapi giữa núi rừng

Từ năm học 2026-2027, đàn Chapi được đưa vào giảng dạy tại Trường phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở Phước Hà, xã Phước Hà, tỉnh Khánh Hòa. Qua từng nhịp đàn còn vụng về của học trò, âm thanh mộc mạc của núi rừng đang được đánh thức, góp phần gìn giữ và trao truyền di sản văn hóa của đồng bào Raglai cho thế hệ mai sau.

Tổ đình Thiền Tôn đang lưu giữ nhiều di sản tư liệu Hán Nôm cổ. (Ảnh: PHÙNG QUỐC ANH)

Đánh thức tư liệu cổ từ di sản Phật giáo Huế

Giữa sương sớm núi Thiên Thai, tiếng chuông Tổ đình Thiền Tôn ngân lên từ không gian đã hơn ba thế kỷ. Trong ngôi cổ tự gắn với dòng thiền Liễu Quán, những mộc bản, kinh sách và tư liệu Hán Nôm vẫn âm thầm lưu giữ dấu tích Phật giáo Huế, vừa chứa đựng những lớp ký ức về lịch sử, văn hóa và văn hiến vùng đất Cố đô.

Đội biểu diễn Taekwondo quốc gia trực thuộc Hiệp hội Taekwondo Hàn Quốc. (Ảnh: Ban tổ chức cung cấp)

Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026

Hướng tới kỷ niệm 35 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Hàn Quốc (1992-2027) và Hội nghị cấp cao APEC 2027 tại đặc khu Phú Quốc, Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam và Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang đồng chủ trì tổ chức chương trình “Ngày văn hóa Việt Nam-Hàn Quốc tại Phú Quốc năm 2026” từ ngày 3-4/10.

Các đại biểu và diễn giả tại Hội thảo. (Ảnh: Ban tổ chức)

Đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành tài sản sở hữu trí tuệ

Hội thảo “Culture Tech 2026: From Culture to IP” trong khuôn khổ iTECH EXPO 2026 đã đặt ra những gợi mở về việc đưa di sản, tài nguyên văn hóa trở thành những tài sản sở hữu trí tuệ mang giá trị kinh tế cao, theo định hướng của Nghị quyết 80-NQ/TW, chuyển văn hóa thành nguồn lực, đóng góp vào phát triển kinh tế.