Công nghiệp sinh học đang trở thành ngành công nghiệp nền tảng của nền kinh tế tri thức, giữ vai trò chiến lược trong y tế, nông nghiệp công nghệ cao, môi trường và kinh tế xanh. Quy mô nền kinh tế sinh học toàn cầu dự báo sẽ đóng góp hơn 2.700 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn tới. Theo Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới, Việt Nam đặt mục tiêu đưa công nghệ sinh học trở thành ngành kinh tế-kỹ thuật quan trọng và thuộc nhóm dẫn đầu châu Á trong một số lĩnh vực.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là động lực phát triển chủ đạo trong giai đoạn mới, vì thế công nghiệp sinh học là một trong những lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng xanh. Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Lâm Đình Thắng cho biết: “Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của cả nước, thành phố xác định chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn là yêu cầu phát triển bền vững, cũng là cơ hội để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và hình thành các động lực kinh tế mới trong giai đoạn tới.
Tính từ năm 2013 đến nay, Sàn giao dịch công nghệ thành phố đã tổ chức 24 kỳ Techmart chuyên ngành trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ sinh học, y tế, chuyển đổi số, đô thị thông minh... Qua đó, hỗ trợ hơn 1.500 đơn vị giới thiệu hơn 6.000 công nghệ, thiết bị và từng bước hình thành mạng lưới kết nối công nghệ giữa viện trường, doanh nghiệp và các địa phương”.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Hải Nhung, Trưởng khoa Sinh học-công nghệ sinh học, Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố hiện sở hữu hệ sinh thái nghiên cứu và ứng dụng công nghệ sinh học lớn nhất nước với sự tham gia của Đại học Quốc gia, Trung tâm Công nghệ sinh học, Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống bệnh viện chuyên sâu, doanh nghiệp công nghệ và mạng lưới chuyên gia thuộc Hội Sinh học-Công nghệ sinh học Thành phố Hồ Chí Minh. Sự kết nối giữa các cấu phần này tạo điều kiện hình thành chuỗi nghiên cứu-thử nghiệm-sản xuất-thương mại hóa sản phẩm sinh học.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế, nơi tập trung mạng lưới bệnh viện tuyến cuối, hệ thống đại học nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo lớn nhất cả nước, đây là thời điểm chiến lược để hình thành nền công nghiệp sinh học có năng lực nghiên cứu, sản xuất và thương mại hóa sản phẩm công nghệ cao mang thương hiệu Việt Nam.
Với lợi thế hội tụ hệ sinh thái nghiên cứu, ứng dụng lớn nhất nước, thành phố đang từng bước hình thành năng lực làm chủ các công nghệ sinh học và y sinh tiên tiến theo định hướng công nghệ chiến lược quốc gia. Không chỉ sở hữu nguồn nhân lực khoa học lớn, địa phương này còn có hệ thống hạ tầng nghiên cứu tương đối hoàn chỉnh phục vụ công nghệ sinh học và công nghệ cao.
Trong đó, Trung tâm Công nghệ sinh học đóng vai trò là đơn vị nghiên cứu ứng dụng và triển khai các công nghệ trong lĩnh vực công nghệ gen, vi sinh, công nghệ tế bào thực vật, công nghệ enzyme-protein và nông nghiệp công nghệ cao, là đầu mối triển khai nhiều chương trình phục vụ phát triển nông nghiệp đô thị và công nghệ sinh học của thành phố. Trong khi đó, Trung tâm Nghiên cứu triển khai (SHTP Labs), Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh là mô hình phòng thí nghiệm công nghệ cao theo chuẩn quốc tế, tập trung vào các lĩnh vực vi mạch-bán dẫn, công nghệ nano, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học và tích hợp hệ thống.
Đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy nghiên cứu liên ngành giữa sinh học, vật liệu, vi điện tử, AI và hình thành các sản phẩm công nghệ cao có khả năng thương mại hóa. Việc hình thành mạng lưới liên kết giữa các đơn vị nghiên cứu nền tảng này sẽ giúp thành phố từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất đồng bộ thay vì phát triển rời rạc theo từng nhóm nghiên cứu riêng lẻ.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Hải Nhung, đối với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, công nghệ sinh học có vai trò đặc biệt trong phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp tuần hoàn và công nghệ sau thu hoạch. Các công nghệ chỉnh sửa gen, vi sinh vật chức năng, enzyme, protein thay thế và sinh học số sẽ góp phần tạo ra các sản phẩm nông nghiệp giá trị cao, giảm phát thải và tăng khả năng thích ứng khí hậu. Đây là hướng đi phù hợp chiến lược phát triển Net Zero và kinh tế tuần hoàn mà thành phố đang ưu tiên triển khai; phù hợp chương trình phát triển nông nghiệp công nghệ cao của các địa phương vùng Đông Nam Bộ.
Nhằm khơi thông nguồn lực, thành phố cần tiên phong thí nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ mới (gen, tế bào gốc) để rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường. Thúc đẩy mô hình “ba nhà” và liên minh R&D (nghiên cứu và phát triển): Nhà nước kiến tạo hạ tầng dùng chung và đặt hàng bài toán lớn; nhà trường nghiên cứu-thẩm định; doanh nghiệp đồng đầu tư từ giai đoạn R&D. Đồng thời, xây dựng mô hình trung tâm liên kết nghiên cứu-thử nghiệm-sản xuất sinh học quy mô vùng, tích hợp phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm dữ liệu sinh học, hệ thống thử nghiệm tiền lâm sàng và không gian tăng tốc doanh nghiệp công nghệ sinh học để có thể trở thành hạ tầng lõi cho hệ sinh thái công nghệ sinh học khu vực phía nam.