Để hiện thực hóa mục tiêu, thành phố giữ vai trò kiến tạo phát triển, dẫn dắt chiến lược, hoàn thiện thể chế, đặt hàng các nhiệm vụ trọng điểm, điều phối nguồn lực và tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo và thương mại hóa công nghệ.
Giải quyết các bài toán thực tế
Mới đây, xã Bàu Bàng, Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp các đơn vị liên quan tổ chức bay thử nghiệm UAV nhằm xây dựng bản đồ không gian 3D. Thiết bị đã quét, ghi hình, thu thập dữ liệu phục vụ tạo bản đồ số, bản đồ trực ảnh và cơ sở dữ liệu không gian, làm nền tảng số hóa hiện trạng địa phương. Theo Phòng Văn hóa-Xã hội xã Bàu Bàng, ứng dụng này giúp dữ liệu chính xác hơn, rút ngắn thời gian khảo sát, tiết kiệm chi phí. Đồng thời hỗ trợ tích cực trong quy hoạch, quản lý đất đai, giám sát trật tự xây dựng... nâng cao hiệu quả điều hành số. Đây là bước đi cụ thể trong thực hiện chủ trương khoa học-công nghệ và chuyển đổi số, hướng đến xây dựng nền tảng dữ liệu hiện đại, phục vụ quản trị dựa trên dữ liệu và tiến tới mục tiêu xây dựng xã Bàu Bàng thông minh, hiện đại.
Ứng dụng khoa học-công nghệ, chuyển đổi số để xây dựng chính quyền điện tử hiện đại, phục vụ phát triển là một trong những mục hàng đầu của Thành phố Hồ Chí Minh. Để cụ thể hóa chủ trương này, Ủy ban nhân dân thành phố ban hành quyết định phê duyệt chương trình khoa học-công nghệ và nâng cao tiềm lực khoa học-công nghệ trên địa bàn giai đoạn 2026-2030. Theo đó, thành phố xác định khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của nền kinh tế. Đồng thời, là nền tảng quan trọng để phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, xây dựng đô thị hiện đại, văn minh, nghĩa tình.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Thăng, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cho biết: Hoạt động khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định cần phải hướng mạnh giải quyết các bài toán lớn phục vụ trực tiếp cho thành phố, cho phát triển hai con số. Đây là tiền đề để đưa khoa học-công nghệ vào cuộc sống, trong sản xuất và tập trung một số lĩnh vực như: Chuyển đổi số, công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chiến lược của quốc gia... Chương trình khoa học-công nghệ và nâng cao tiềm lực khoa học-công nghệ trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026-2030 là khung quan trọng để thành phố xác định một số điểm then chốt cần tập trung, hỗ trợ, trong đó bao gồm xác định các nhiệm vụ trọng tâm; trong bối cảnh hiện tại là không xác định nhiệm vụ riêng lẻ mà hướng đến các cụm, chuỗi nhiệm vụ để khi thực hiện xong sẽ giải quyết được bài toán thực tế mà thành phố đang cần.
Năm nhóm giải pháp
Đến năm 2030, thành phố đặt mục tiêu tổng chi toàn xã hội cho nghiên cứu và phát triển đạt từ 2-3% GRDP, trong đó chi ngoài ngân sách chiếm hơn 60%. Mỗi năm, thành phố triển khai ít nhất 50 nhiệm vụ khoa học-công nghệ; có từ 40 nhiệm vụ trở lên được đánh giá cuối kỳ hoặc nghiệm thu. Tỷ lệ kết quả các nhiệm vụ khoa học-công nghệ được ứng dụng vào thực tiễn sau 12 tháng nghiệm thu đạt từ 60% trở lên. Thành phố cũng phấn đấu có ít nhất 25% số doanh nghiệp ứng dụng kết quả nghiên cứu từ các viện, trường vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; hình thành năm trung tâm nghiên cứu tiệm cận trình độ quốc tế (CoE) trong các lĩnh vực trọng tâm, ưu tiên phát triển. Tỷ lệ người làm công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt từ 15 người/10.000 dân. Đồng thời, hình thành đội ngũ ít nhất 5.000 nhân lực khoa học -công nghệ trẻ, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao (thạc sĩ, tiến sĩ, làm việc trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên) chiếm tỷ trọng ngày càng cao.
Theo Thạc sĩ Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng phòng Phát triển Khoa học, Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, để thực hiện mục tiêu nêu trên, thành phố triển khai bảy chương trình trọng điểm: Chuyển đổi số và đô thị thông minh; công nghiệp công nghệ cao và sản xuất thông minh; y tế và chăm sóc sức khỏe; nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao; vận hành đô thị hiện đại và thích ứng biến đổi khí hậu; nghiên cứu khoa học xã hội, quản trị siêu đô thị; phát triển vườn ươm khoa học-công nghệ trẻ. Đồng thời, triển khai năm nhóm giải pháp về hoàn thiện hành lang pháp lý khoa học-công nghệ; hỗ trợ vòng đời nghiên cứu ra thị trường (thương mại hóa); đào tạo, thu hút chuyên gia trình độ cao; thu hút doanh nghiệp và nguồn lực quốc tế; thúc đẩy ứng dụng khoa học-công nghệ trong bộ máy nhà nước.
Trong đó, về hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghệ và thương mại hóa sản phẩm, thành phố hỗ trợ kinh phí thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển các công nghệ trọng điểm, nền tảng và chiến lược của thành phố; ưu tiên các nhiệm vụ có khả năng làm chủ công nghệ, tạo ra sản phẩm chủ lực và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, hỗ trợ hoạt động chuyển giao công nghệ và khai thác kết quả nghiên cứu theo cơ chế thị trường. Thúc đẩy phát triển tài sản trí tuệ, định giá, bảo hộ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học-công nghệ. Hỗ trợ triển khai các dự án sản xuất thử nghiệm, hoàn thiện và làm chủ công nghệ cũng như xây dựng các mô hình thí điểm ứng dụng công nghệ mới, công nghệ cao làm cơ sở để nhân rộng trong sản xuất, dịch vụ và quản lý nhà nước. Ngoài ra, thành phố khuyến khích, thu hút các doanh nghiệp công nghệ lớn và tập đoàn kinh tế trong và ngoài nước tham gia sâu vào các chương trình khoa học-công nghệ của thành phố. Thành phố phát huy vai trò chủ thể của doanh nghiệp trong hoạt động nghiên cứu và phát triển, đặt hàng nhiệm vụ khoa học-công nghệ, đồng đầu tư và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.